Tái thông động mạch vành cho người mắc nhiều bệnh nền
Ông Chương, 56 tuổi, mắc nhiều bệnh nền, động mạch vành tắc mạn tính và vôi hóa, được bác sĩ can thiệp tái thông.
Ông Chương tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, suy tim, từng đặt hai stent động mạch vành. Gần đây, ông thường xuyên đau thắt ngực bên trái.
ThS.BS Nguyễn Văn Ngọc, khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết các stent đã đặt trước đó tại động mạch liên thất trước và động mạch mũ vẫn lưu thông tốt. Tuy nhiên, tình trạng xơ vữa tiếp tục tiến triển tại động mạch vành phải gây hẹp nặng, tắc hoàn toàn mạn tính một đoạn mạch. Tình trạng này làm giảm tưới máu cơ tim gây đau thắt ngực khi gắng sức. Bác sĩ chỉ định can thiệp động mạch vành qua da cho người bệnh.
Êkíp can thiệp tái thông động mạch vành tắc mạn tính cho người bệnh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Bác sĩ Ngọc cho biết tắc hoàn toàn mạn tính động mạch vành (Chronic Total Occlusion - CTO) là một trong những dạng tổn thương thách thức nhất trong can thiệp mạch vành. Trường hợp ông Chương, đoạn mạch đã tắc trong thời gian dài, tổn thương vôi hóa nặng, gấp khúc, khiến việc đưa dây dẫn và dụng cụ can thiệp qua vị trí tắc khó khăn.
Bác sĩ sử dụng nhiều loại dây dẫn chuyên dụng với đặc tính, độ cứng khác nhau để tìm đường đi qua tổn thương. Tuy nhiên, kỹ thuật hai dây dẫn song song (parallel wire technique) ban đầu không thành công do dây dẫn chưa thể đi theo hướng phù hợp để tiến vào lòng thật của đoạn mạch phía xa.
Êkíp chuyển sang HydroDynamic contrast Recanalization (HDR) - kỹ thuật hỗ trợ vượt qua tổn thương CTO theo đường xuôi dòng. Kỹ thuật này sử dụng một lượng nhỏ chất cản quang được bơm vào vùng tổn thương, kết hợp với dây dẫn chuyên dụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dây dẫn vượt qua đoạn tắc và tiến về phía lòng thật của đoạn mạch xa.
Tình trạng vôi hóa nặng, mạch gấp khúc khiến việc đưa bóng và các dụng cụ can thiệp qua tổn thương khó khăn. Êkíp đã phối hợp kỹ thuật neo bóng (anchor balloon) và hệ thống ống thông "mẹ bồng con" (mother-and-child) để tăng lực đẩy, tạo điều kiện đưa dụng cụ tiến sâu hơn qua đoạn mạch tổn thương, đặt stent thành công. Kết quả kiểm tra bằng siêu âm trong lòng mạch (IVUS) sau can thiệp cho thấy stent phủ hết tổn thương, nở tốt, áp sát thành mạch, không ghi nhận bóc tách ở hai đầu stent.
Sau 8 giờ can thiệp liên tục với nhiều kỹ thuật chuyên sâu, dòng máu qua đoạn động mạch vành bị tắc của người bệnh được khôi phục thành công.
Theo bác sĩ Ngọc, can thiệp CTO thường phức tạp hơn các tổn thương hẹp động mạch vành thông thường, đồng thời có nguy cơ biến chứng cao hơn như bóc tách, thủng mạch, chảy máu. Đặc biệt, ở những ca can thiệp kéo dài, êkíp cần liên tục theo dõi và kiểm soát lượng thuốc cản quang, thời gian chiếu tia. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng với những bệnh nhân có bệnh thận mạn hoặc nhiều bệnh lý nền như ông Chương.
Bác sĩ Ngọc khám cho ông Chương. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Sau xuất viện, ông Chương tiếp tục dùng thuốc theo chỉ định và tái khám định kỳ.
Theo bác sĩ Ngọc, tắc hoàn toàn mạn tính động mạch vành - CTO thường hình thành và tiến triển âm thầm trong thời gian dài. Các mảng xơ vữa phát triển dần, làm lòng động mạch ngày càng hẹp và có thể dẫn tới tắc hoàn toàn.
Khi một đoạn động mạch vành bị tắc từ từ, cơ thể có thể hình thành hệ thống tuần hoàn bàng hệ - những mạch máu nhỏ giúp cung cấp một phần máu cho vùng cơ tim phía sau vị trí tắc. Vì vậy, một số người bệnh vẫn sinh hoạt tương đối bình thường hoặc chỉ xuất hiện triệu chứng khi gắng sức mà không biết mình đã có tổn thương CTO.
Bác sĩ Ngọc khuyến cáo, người bệnh được chẩn đoán bệnh động mạch vành hoặc từng đặt stent cần tái khám định kỳ, tuân thủ điều trị. Việc theo dõi thường xuyên giúp phát hiện sớm tình trạng bệnh tiến triển và chọn phương án điều trị phù hợp.
| Độc giả gửi câu hỏi về bệnh tim mạch tại đây để bác sĩ giải đáp |



















