Nam giới Việt Nam thấp hơn 3 cm so chiều cao trung bình toàn cầu
Việt Nam đứng thứ 153 trong 201 quốc gia và vùng lãnh thổ về chiều cao trung bình, trong đó nam giới thấp hơn khoảng 3 cm so với trung bình toàn cầu.
Ngày 11/8, TS.BS Trương Hồng Sơn, Phó tổng thư ký Tổng Hội Y học Việt Nam, cho hay chiều cao trung bình của nam giới Việt Nam hiện đạt 168,1 cm và nữ 156,2 cm. So với 10 năm trước, nam thanh niên tăng 3,7 cm, còn nữ tăng 2,6 cm. So với các nước Đông Nam Á, chiều cao của người Việt xếp sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Trước đây 10 năm, chiều cao người Việt gần thấp nhất trong khu vực, chỉ hơn người Indonesia và Philippines.
Theo Bảng thống kê chiều cao trung bình của các quốc gia trên thế giới dựa trên nghiên cứu của NCD Risk Factor Collaboration, chiều cao người Việt đang đứng thứ 153 trên tổng số 201 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện, chiều cao trung bình của nam giới trên toàn cầu khoảng 171 cm, như vậy nam giới Việt Nam thấp hơn 3 cm so với trung bình thế giới. Ngoài ra, đây cũng là một khoảng cách khá xa so với các quốc gia dẫn đầu như Hà Lan (nam giới cao xấp xỉ 185 cm) hay các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc (nam giới cao trung bình 173 cm).
"Chiều cao của người Việt Nam có nhiều thay đổi trong những năm vừa qua, tuy nhiên mức tăng còn chậm và vẫn thuộc top thấp của thế giới", ông Sơn nói, thêm rằng để thu hẹp khoảng cách chiều cao người Việt với các nước, cần quan tâm đến dinh dưỡng, vận động cho trẻ.
Trên bình diện quốc gia, tầm vóc khiêm tốn của người dân bộc lộ rõ những lỗ hổng trong chế độ dinh dưỡng, môi trường sống và chiến lược phát triển thể chất học đường. Khẩu phần ăn thiếu vi chất, lối sống thiếu khoa học và mức độ hoạt động thể lực thấp ở lứa tuổi học đường đang kìm hãm sự phát triển của trẻ. Bốn yếu tố quyết định tầm vóc bao gồm di truyền, dinh dưỡng, phần còn lại thuộc về rèn luyện và giấc ngủ.
Theo ông Sơn, lứa tuổi học sinh là một trong những thời điểm quan trọng đối với quá trình tăng trưởng chiều cao. Vì vậy, dinh dưỡng ở giai đoạn này không đơn thuần nhằm giúp trẻ "no bụng" mà cần đáp ứng nhu cầu phát triển thể chất, tầm vóc. Tuy nhiên, bữa ăn học đường chủ yếu được nhìn dưới góc độ bảo đảm an toàn thực phẩm, hạn chế nguy cơ ngộ độc. Cách tiếp cận này, theo chuyên gia, khiến bữa ăn trường học dễ trở thành một dạng "bếp ăn tập thể", không khác biệt so với khẩu phần ăn dành cho công nhân.
"Bữa ăn học đường cần được thiết kế theo nhu cầu phát triển của trẻ, thay vì chỉ bảo đảm trẻ được ăn đủ và an toàn", ông Sơn nói.
Trẻ em miền Tây chơi bóng tăng cường vận động. Ảnh: Ngọc Tài
Tại sự kiện Xây dựng Chương trình Chăm sóc sức khỏe học đường toàn diện hôm 11/8, PGS.TS Nguyễn Quang Dũng, Chủ nhiệm bộ môn Dinh dưỡng, Trường Đại học Y Hà Nội, cho hay khẩu phần ăn học sinh cần được tính toán dựa trên năng lượng, protein, chất béo, carbohydrate, vitamin và khoáng chất. Thực đơn cũng cần bảo đảm các axit amin thiết yếu, cân đối giữa nguồn đạm động vật và thực vật cùng các nhóm thực phẩm khác.
Nhu cầu dinh dưỡng của học sinh có thể khác nhau theo khu vực và thể trạng. Trong bối cảnh nhiều trẻ thừa cân, béo phì, khẩu phần cần được điều chỉnh theo nhu cầu năng lượng thực tế thay vì áp dụng một thực đơn chung.
Giáo dục dinh dưỡng cũng cần được đưa vào trường học, theo PGS Dũng. Trẻ cần hiểu vì sao phải ăn đa dạng thực phẩm, tăng rau và chất xơ. Chất xơ có vai trò trong kiểm soát mỡ máu, đường huyết và cân nặng. "Các trường có thể tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa để nói về dinh dưỡng. Các em cần được nói dần để thay đổi thái độ", ông Dũng nói.
Còn ông Nguyễn Chính Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng, cho rằng trường học không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức mà còn là môi trường hình thành những thói quen ảnh hưởng đến sức khỏe suốt đời. Theo đó, giáo dục dinh dưỡng, vận động thể chất, chăm sóc sức khỏe tinh thần và kỹ năng tự bảo vệ cần được triển khai song song với chương trình học. Trong đó, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng bữa ăn học đường là một trong những nền tảng để xây dựng thế hệ học sinh khỏe mạnh, có tầm vóc tốt hơn.
Hiện nay, một số mô hình dinh dưỡng học đường đã thử nghiệm thực đơn phong phú, hạn chế lặp món, giảm muối và đường, đồng thời điều chỉnh theo mùa và đặc thù địa phương. Song, những mô hình này bước đầu cho hiệu quả nhưng còn mang tính đơn lẻ, chưa được nhân rộng trên diện rộng.



















