5 biến chứng viêm phổi thường gặp
Tràn dịch màng phổi, áp xe phổi, suy hô hấp, nhiễm khuẩn huyết và tổn thương nhiễm trùng lan rộng là các biến chứng thường gặp do viêm phổi.
Viêm phổi xảy ra khi các tác nhân như vi khuẩn, virus hoặc nấm xâm nhập và gây viêm tại nhu mô phổi. Các túi khí (phế nang) trong phổi có thể chứa dịch hoặc mủ, cản trở quá trình trao đổi oxy.
Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Minh Thuận, khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết khi tình trạng viêm lan rộng hoặc cơ thể không kiểm soát được nhiễm trùng, người bệnh có thể xuất hiện các biến chứng tại phổi hoặc toàn thân.
Suy hô hấp
Đây là một trong những biến chứng nguy hiểm của viêm phổi, xảy ra khi phổi không còn đảm bảo cung cấp đủ oxy vào máu. Tình trạng viêm khiến nhiều túi khí trong phổi chứa dịch và mủ, làm giảm diện tích trao đổi khí. Khi tổn thương lan rộng, lượng oxy đi vào máu giảm, người bệnh có thể khó thở, thở nhanh, tím môi hoặc đầu chi và giảm nồng độ oxy trong máu.
Bác sĩ Thuận cho biết nguy cơ suy hô hấp cao hơn ở người có bệnh phổi mạn tính như phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bệnh tim, người cao tuổi hoặc viêm phổi nặng. Một số trường hợp cần thở oxy, thậm chí hỗ trợ hô hấp bằng máy cho đến khi tình trạng viêm được kiểm soát.
Tràn dịch màng phổi, viêm mủ màng phổi
Màng phổi là hai lớp mô mỏng bao quanh phổi và lót mặt trong thành ngực. Khi viêm phổi, dịch có thể tích tụ trong khoang giữa hai lớp màng này, gọi là tràn dịch màng phổi. Một số trường hợp dịch bị nhiễm trùng và hình thành mủ, được gọi là viêm mủ màng phổi.
Người bệnh thường đau ngực, khó thở, sốt kéo dài hoặc sốt không cải thiện dù đã điều trị viêm phổi. Nếu dịch ít, cơ thể có thể tự hấp thu khi nhiễm trùng được kiểm soát. Ngược lại, dịch nhiều hoặc đã nhiễm khuẩn có thể cần chọc hút, đặt ống dẫn lưu hoặc các biện pháp can thiệp khác.
Áp xe phổi
Áp xe phổi xảy ra khi một vùng nhu mô phổi bị nhiễm trùng và hình thành ổ chứa mủ. Biến chứng này có thể xuất hiện sau viêm phổi do một số loại vi khuẩn, đặc biệt ở người có nguy cơ hít sặc hoặc sức khỏe suy giảm.
Người bệnh sốt kéo dài, ho khạc nhiều đờm, đôi khi đờm có mùi hôi, đau ngực, mệt mỏi hoặc sụt cân. Ổ áp xe có thể cần điều trị bằng kháng sinh kéo dài. Một số trường hợp không đáp ứng hoặc ổ mủ lớn có thể cần dẫn lưu hoặc can thiệp ngoại khoa.
Bác sĩ Thuận đang nghe phổi cho một người đi khám sức khỏe. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm trùng
Vi khuẩn từ ổ nhiễm trùng trong phổi có thể xâm nhập vào máu, lan đến các cơ quan khác và gây nhiễm khuẩn huyết. Khi cơ thể phản ứng quá mức với nhiễm trùng, tình trạng này có thể tiến triển thành sốc nhiễm trùng, khiến huyết áp tụt và các cơ quan bị ảnh hưởng. Người bệnh có thể sốt hoặc hạ thân nhiệt, thở nhanh, tim đập nhanh, lơ mơ, tụt huyết áp, tiểu ít hoặc mệt lả. Đây là tình trạng cấp cứu cần được điều trị tại bệnh viện càng sớm càng tốt.
Nhiễm trùng lan rộng, tổn thương nhiều cơ quan
Trong trường hợp nặng, vi khuẩn từ phổi có thể theo đường máu lan đến các cơ quan khác và gây những ổ nhiễm trùng thứ phát. Các biến chứng nhiễm trùng lan rộng được ghi nhận gồm viêm màng não, viêm nội tâm mạc hoặc viêm khớp nhiễm khuẩn, dù không phải trường hợp viêm phổi nào cũng gặp. Nguy cơ này đáng lưu ý ở người suy giảm miễn dịch hoặc nhiễm trùng phổi nặng. Khi nhiễm trùng lan rộng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng mới ngoài biểu hiện hô hấp ban đầu, cần được đánh giá và điều trị kịp thời.
Theo bác sĩ Thuận, người cao tuổi, trẻ nhỏ, mắc COPD, bệnh tim mạch, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch hoặc đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch có nguy cơ viêm phổi nặng và biến chứng cao.
Người bệnh cần đi khám sớm khi ho, sốt, khạc đờm, đau ngực hoặc khó thở, cần cấp cứu nếu khó thở tăng nhanh, tím tái, lơ mơ, đau ngực dữ dội hoặc SpO2 (nồng độ oxy trong máu) giảm. Người bệnh viêm phổi không nên tự điều trị kéo dài tại nhà. Khi triệu chứng không cải thiện, nên đi khám để được xác định mức độ bệnh, phát hiện biến chứng và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
Phòng bệnh đóng vai trò quan trọng trong hạn chế biến chứng. Người có nguy cơ cao nên tiêm các vaccine phù hợp, trong đó có vaccine cúm và phế cầu theo khuyến cáo, bỏ thuốc lá, kiểm soát tốt bệnh nền và chú ý phòng hít sặc ở người cao tuổi hoặc có rối loạn nuốt.
| Độc giả gửi câu hỏi về bệnh hô hấp tại đây để bác sĩ giải đáp |



















