Xơ vữa động mạch cảnh - thủ phạm âm thầm gây đột quỵ não
Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ do xơ vữa là nguyên nhân gây nhồi máu não, song có thể chủ động phòng ngừa và điều trị.
"Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ là nguyên nhân đột quỵ có thể phòng ngừa hiệu quả nhất, nhưng cũng là ranh giới giữa chẩn đoán và chỉ định dễ bị mờ nhất", BSCKII Nguyễn Tiến Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai, nói tại hội thảo Phẫu thuật hẹp động mạch cảnh trên bệnh nhân tỉnh: Cập nhật kỹ thuật và kinh nghiệm lâm sàng", hôm 14/8.
Theo BS Dũng, trên thế giới xơ vữa động mạch cảnh được ghi nhận liên quan khoảng15-20% trường hợp nhồi máu não. Tại Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu trên 1.191 bệnh nhân bị cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) hoặc nhồi máu não, tỷ lệ tổn thương động mạch cảnh được ghi nhận khoảng 5,2%, thấp hơn một số báo cáo phương Tây nhưng tương đương với nhiều quốc gia châu Á.
Động mạch cảnh là một trong những nguồn cung cấp máu chính cho não. Khi thành mạch hình thành các mảng xơ vữa, lòng động mạch có thể bị hẹp dần, thậm chí hình thành huyết khối và tắc nghẽn. Theo chuyên gia, đột quỵ liên quan hẹp động mạch cảnh có thể xảy ra qua nhiều cơ chế. Thứ nhất là huyết khối - tắc mạch, là cơ chế quan trọng. Mảng xơ vữa bị loét hoặc nứt vỡ có thể tạo huyết khối. Một phần huyết khối hoặc mảnh xơ vữa có thể bong ra, theo dòng máu đi lên não và gây tắc các động mạch não.
Thứ hai là giảm tưới máu não. Khi động mạch cảnh hẹp nặng, lượng máu lên não giảm, đặc biệt trong những tình huống cơ thể không thể duy trì đủ lưu lượng tuần hoàn. Tổn thương thiếu máu có thể xuất hiện ở những vùng não nằm giữa các vùng cấp máu của các động mạch lớn, thường gọi là vùng "giáp ranh".
Ngoài ra, huyết khối có thể lan rộng tại vị trí tổn thương hoặc gây tắc các nhánh mạch, làm tăng nguy cơ thiếu máu não cấp.
Người hẹp động mạch cảnh có thể điều trị nội khoa, hoặc can thiệp, phẫu thuật. Song, ranh giới giữa phát hiện tổn thương, đánh giá nguy cơ và chỉ định tái thông mạch đòi hỏi bác sĩ phải xem xét đồng thời mức độ hẹp, triệu chứng, hình thái mảng xơ vữa, tình trạng não, bệnh lý đi kèm và nguy cơ của thủ thuật.
Các bác sĩ Bạch Mai can thiệp cho một bệnh nhân hẹp động mạch cảnh. Ảnh: Thế Anh
Theo PGS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cho hay bệnh lý hẹp, tắc động mạch cảnh ngoài sọ là một nguyên nhân quan trọng của thiếu máu não và đột quỵ thiếu máu não. Nếu được phát hiện và điều trị đúng thời điểm, nguy cơ biến cố có thể được giảm đáng kể.
Bệnh viện Bạch Mai đã thực hiện 500 ca phẫu thuật điều trị hẹp động mạch cảnh. Trong đó, kỹ thuật phẫu thuật hẹp động mạch cảnh trên bệnh nhân tỉnh, với phương pháp vô cảm vùng thay vì gây mê toàn thân trong những trường hợp phù hợp mang lại nhiều lợi ích. Ưu điểm quan trọng của cách tiếp cận này là ê kíp có thể trực tiếp theo dõi tình trạng thần kinh của người bệnh trong quá trình phẫu thuật.
Khi bệnh nhân tỉnh, bác sĩ có thể đánh giá liên tục ý thức, ngôn ngữ, vận động và những thay đổi thần kinh trong từng giai đoạn. Qua đó, tình trạng tưới máu não có thể được theo dõi trực tiếp hơn trong lúc phẫu thuật.
"Não của người bệnh trở thành một monitor sống" là cách các chuyên gia mô tả giá trị của việc theo dõi thần kinh trực tiếp trong cuộc mổ. Mục tiêu của phẫu thuật vì vậy không chỉ là lấy bỏ mảng xơ vữa, mở thông lòng động mạch và khôi phục dòng máu, mà còn phải bảo vệ não trong toàn bộ quá trình can thiệp.
Bác sĩ Cơ cho hay trong chiến lược phát triển ba năm tới, bệnh viện định hướng xây dựng chương trình điều trị bệnh lý mạch máu toàn diện, không chỉ tập trung vào động mạch cảnh mà mở rộng sang bệnh lý động mạch chủ, động mạch ngoại biên, tĩnh mạch và các bệnh lý mạch máu phức tạp. Các phương pháp điều trị nội khoa, phẫu thuật mở, can thiệp nội mạch và hybrid được bác sĩ lựa chọn dựa trên đặc điểm từng người bệnh thay vì ranh giới giữa các chuyên khoa.
Hẹp động mạch cảnh có thể tồn tại âm thầm trong nhiều năm mà không gây triệu chứng. Khi mảng xơ vữa nứt vỡ hoặc huyết khối hình thành, người bệnh có thể xuất hiện TIA hoặc đột quỵ đột ngột. Do đó, phòng ngừa đột quỵ không chỉ bắt đầu khi người bệnh đã có triệu chứng. Kiểm soát huyết áp, đường huyết, cholesterol, không hút thuốc, vận động phù hợp và điều trị các bệnh lý tim mạch là nền tảng quan trọng.




















