Dinh dưỡng

Vì sao mỡ máu cao làm tăng nguy cơ bệnh thận?

Vì sao mỡ máu cao làm tăng nguy cơ bệnh thận?

Mỡ máu dư thừa có thể làm tổn thương mạch máu nuôi thận, thúc đẩy viêm và stress oxy hóa, đồng thời tích tụ trực tiếp trong các tế bào thận.

Mỡ máu cao là tình trạng nồng độ các chất béo (lipid) trong máu vượt quá mức bình thường, đặc trưng bởi việc tăng cholesterol xấu hoặc triglyceride. Theo BS.CKI Nguyễn Thị Hải, khoa Tim mạch, Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Cầu Giấy, tình trạng này ảnh hưởng đến tim mạch, liên quan mật thiết đến chức năng thận.

Cholesterol cao có thể làm tổn thương mạch máu thận

Thận nhận khoảng 20% lượng máu của cơ thể nên phụ thuộc nhiều vào hệ thống mạch máu để duy trì chức năng lọc và điều hòa nước, điện giải. Khi LDL-cholesterol (cholesterol xấu) tăng kéo dài, cholesterol có thể tích tụ trong thành mạch và hình thành mảng xơ vữa. Mạch máu khi đó trở nên dày, cứng, hẹp, làm giảm lượng máu đến thận.

Không chỉ các mạch máu lớn, mạng lưới mạch nhỏ bên trong thận cũng quan trọng vì đưa máu đến các đơn vị lọc. Khi dòng máu bị ảnh hưởng kéo dài, mô thận có thể thiếu oxy, các đơn vị lọc bị tổn thương và chức năng thận suy giảm.

Theo bác sĩ Hải, cholesterol cao không phải là nguyên nhân trực tiếp gây suy thận. Bệnh thận mạn thường là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì...

Mỡ máu có thể tích tụ ngay trong mô thận

Bình thường tế bào thận có thể tiếp nhận và xử lý chất béo để phục vụ các hoạt động của tế bào. Khi lượng mỡ máu vượt quá khả năng xử lý, chúng có thể tích tụ bất thường trong tế bào. Tình trạng này làm rối loạn hoạt động của tế bào, tăng stress oxy hóa và kích hoạt phản ứng viêm.

Sự tích tụ chất béo có thể ảnh hưởng đến nhiều loại tế bào thận, trong đó có podocyte - tế bào quan trọng giúp duy trì hàng rào lọc của cầu thận. Nếu tổn thương kéo dài, mô thận có thể bị xơ hóa và mất dần nephron - đơn vị chức năng của thận, từ đó làm suy giảm chức năng cơ quan này.

Xét nghiệm máu đánh giá tình trạng rối loạn mỡ máu thông qua các chỉ số cholesterol toàn phần và triglyceride. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Xét nghiệm máu đánh giá tình trạng rối loạn mỡ máu thông qua các chỉ số cholesterol toàn phần và triglyceride. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

LDL và các lipoprotein giàu triglyceride thúc đẩy viêm

Bên cạnh việc tích tụ trong tế bào, một số loại chất béo và lipoprotein (các hạt vận chuyển chất béo trong máu) cũng có thể thúc đẩy phản ứng viêm và stress oxy hóa. LDL bị oxy hóa và các lipoprotein giàu triglyceride có thể tác động lên thành mạch và tế bào trong thận, làm gia tăng tổn thương khi quá trình này kéo dài.

Stress oxy hóa còn có thể ảnh hưởng đến ty thể - bộ phận tạo năng lượng cho tế bào, khiến tế bào giảm khả năng chống chịu với tổn thương. Theo thời gian, các phản ứng viêm và oxy hóa kéo dài góp phần gây tổn thương cầu thận, ống thận và thúc đẩy quá trình xơ hóa.

Theo bác sĩ Hải, rối loạn mỡ máu và bệnh thận mạn có mối quan hệ hai chiều. Mỡ máu bất thường có thể góp phần làm tổn thương thận, trong khi chức năng thận suy giảm lại ảnh hưởng đến chuyển hóa mỡ máu, thường biểu hiện bằng tăng triglyceride, giảm HDL-cholesterol (cholesterol tốt) và thay đổi đặc tính của LDL-cholesterol.

Mặc dù LDL-cholesterol vẫn là chỉ số quan trọng trong đánh giá và điều trị rối loạn mỡ máu, song ở người bệnh thận, nguy cơ không nên được đánh giá chỉ dựa vào một chỉ số. Các lipoprotein giàu triglyceride và remnant cholesterol (cholesterol tồn dư là phần cholesterol còn lại trong các lipoprotein giàu triglyceride sau khi loại trừ LDL-C và HDL-C) cũng được quan tâm do liên quan đến xơ vữa và nguy cơ tim mạch.

Khi đi kèm tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì và kháng insulin, rối loạn mỡ máu và chức năng thận có thể tác động qua lại, tạo thành vòng xoắn bệnh lý. Tổn thương ở một cơ quan hoặc hệ thống làm tăng gánh nặng lên các cơ quan còn lại, từ đó làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và thúc đẩy bệnh thận mạn tiến triển.

Theo bác sĩ Hải, người bệnh thận mạn cần được đánh giá nguy cơ tim mạch và kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, trong đó có rối loạn mỡ máu. Việc lựa chọn thuốc giảm mỡ máu dựa trên nguy cơ tim mạch tổng thể, tuổi, chức năng thận và tình trạng bệnh.

Người có rối loạn mỡ máu, đặc biệt người mắc bệnh thận mạn, nên kiểm tra định kỳ, kiểm soát tốt huyết áp, đường huyết, cân nặng, chế độ ăn theo hướng dẫn của bác sĩ. Hạn chế chất béo bão hòa, đường và rượu bia, đồng thời duy trì vận động phù hợp giúp kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa.

Độc giả gửi câu hỏi về bệnh tim mạch tại đây để bác sĩ giải đáp

Các tin khác

Không thừa cân, gan vẫn nhiễm mỡ

Không thừa cân, gan vẫn nhiễm mỡ

Chị Hòa, 28 tuổi, nặng 45 kg, cao 1,56 m, không thừa cân nhưng mỡ chiếm 46% trọng lượng cơ thể, bác sĩ phát hiện men gan cao, gan nhiễm mỡ độ ba.
Ai cần đặc biệt cẩn trọng khi ăn bánh trung thu?

Ai cần đặc biệt cẩn trọng khi ăn bánh trung thu?

Bánh trung thu chứa lượng đường, chất béo và năng lượng rất cao; các nhóm mắc bệnh mạn tính hoặc đang kiểm soát cân nặng nếu ăn uống thiếu kiểm soát rất dễ khiến bệnh tình trở nặng.
Thói quen ngủ giơ tay qua đầu cảnh báo bệnh gì?

Thói quen ngủ giơ tay qua đầu cảnh báo bệnh gì?

Nhiều người chỉ thấy thoải mái khi đưa hai tay qua đầu lúc ngủ, song các chuyên gia cảnh báo đây có thể là dấu hiệu cho thấy cột sống cổ hoặc khớp vai đang gặp tổn thương.
Ba lý do cần kiểm soát axit uric

Ba lý do cần kiểm soát axit uric

Kiểm soát axit uric có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh gout, bảo vệ chức năng thận, hỗ trợ ổn định huyết áp và hạn chế các biến chứng tim mạch.
Tưởng nấm chân, hóa ung thư

Tưởng nấm chân, hóa ung thư

Thấy mảng da đen sẫm ở kẽ ngón chân rỉ dịch, người phụ nữ 60 tuổi đến Bệnh viện Da liễu Trung ương khám, bất ngờ nhận kết quả mắc ung thư hắc tố.
Tuyến tiền liệt phì đại gấp đôi

Tuyến tiền liệt phì đại gấp đôi

Ông Nam, 78 tuổi, đi tiểu 5-6 lần mỗi đêm do tuyến tiền liệt phì đại gấp hai lần, được điều trị bằng liệu pháp hơi nước Rezum.