Phế cầu kháng thuốc - mối nguy đe dọa tính mạng trẻ nhỏ
Tình trạng kháng kháng sinh đang khiến những ca nhiễm khuẩn phế cầu nặng trở nên khó điều trị, tăng nguy cơ viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, để lại di chứng lâu dài, thậm chí tử vong.
Ngày 5/9, PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng Bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho hay phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) vốn là một trong những vi khuẩn thường trú ở đường hô hấp. Nhiều người khỏe mạnh mang vi khuẩn mà không có triệu chứng. Tuy nhiên, khi vượt qua hàng rào bảo vệ của cơ thể, phế cầu có thể gây viêm phổi, viêm tai giữa hoặc nguy hiểm hơn là nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não và các biến chứng nguy hiểm khác, nhất là ở trẻ nhỏ.
Hiện nay, nhiều người vẫn còn xem nhẹ, thậm chí chưa hiểu rõ về gánh nặng bệnh do phế cầu, dù đây là một trong những tác nhân gây bệnh xâm lấn nguy hiểm hàng đầu ở trẻ nhỏ. Trước đây, phế cầu tương đối nhạy với các kháng sinh thông thường. Trẻ có thể chỉ bị viêm tai, viêm phổi và đáp ứng điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm. Tuy nhiên, những năm gần đây, điều đáng lo không chỉ là số trẻ mắc bệnh mà còn là bệnh cảnh nặng hơn do phế cầu ngày càng kháng nhiều loại kháng sinh, khiến việc điều trị phức tạp hơn", bác sĩ Thuý nói.
Theo số liệu nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương vừa công bố, 75% chủng phế cầu gây bệnh xâm lấn đã kháng cephalosporin thế hệ ba, gần 100% kháng erythromycin và clindamycin. Tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, tỷ lệ kháng một số nhóm kháng sinh phổ biến cũng lên tới khoảng 80%. Việc vi khuẩn liên tục tiếp xúc với kháng sinh tạo áp lực chọn lọc, khiến chúng có khả năng chống chịu để tồn tại và phát triển. Qua thời gian, chúng có thể trở thành những chủng kháng nhiều loại thuốc.
Các chuyên gia nhận định việc tự ý dùng kháng sinh trong cộng đồng là nguyên nhân quan trọng khiến vi khuẩn ngày càng tăng đề kháng, làm thu hẹp lựa chọn điều trị. Khi thuốc kháng sinh đầu tiên không còn hiệu quả, bác sĩ phải thay đổi phác đồ, lựa chọn kháng sinh mạnh hơn và theo dõi sát đáp ứng. Với những bệnh như viêm màng não, mỗi giờ trì hoãn điều trị đều có thể ảnh hưởng đến tiên lượng lâu dài.
Một đặc điểm khiến phế cầu khó kiểm soát là vi khuẩn này có thể tồn tại ở vùng mũi họng của người khỏe mạnh. Nghiên cứu công bố năm 2026 ước tính khoảng 33% trẻ em Việt Nam mang phế cầu khuẩn ở vùng mũi họng mà không có biểu hiện bệnh. Những người này có thể trở thành nguồn lây cho người khác, đặc biệt trong gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống.
"Người lớn có sức đề kháng tốt có thể mang vi khuẩn mà không phát bệnh, nhưng khi về nhà vẫn có khả năng truyền cho con, cháu", bác sĩ Thúy giải thích.
Một em bé thăm khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Ảnh: Giang Huy
Ngoài ra, phế cầu có hơn 100 type huyết thanh khác nhau. Một số type phế cầu có tỷ lệ lưu hành đáng chú ý tại Việt Nam gồm 6A, 19F, 6B, 23F, 14 và 19A. Trong đó, type 19F được ghi nhận ở 17% trẻ mang phế cầu và liên quan đến 25% số ca tử vong do bệnh phế cầu xâm lấn được xác định tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Các vaccine hiện nay không bao phủ toàn bộ mà tập trung vào những type phổ biến và có khả năng gây bệnh nặng. Vaccine giúp giảm nguy cơ mắc bệnh nặng và các biến chứng nguy hiểm.
Kháng kháng sinh không chỉ là vấn đề của riêng phế cầu hay riêng Việt Nam mà đã trở thành thách thức y tế toàn cầu. Trong bối cảnh vi khuẩn có thể nhanh chóng thích nghi với thuốc mới, việc phát triển kháng sinh mới không thể chạy đua với tốc độ hình thành kháng thuốc. Trong cuộc chiến với phế cầu kháng thuốc, vaccine được xem là một trong những biện pháp phòng bệnh quan trọng. Khi giảm được số ca nhiễm, đặc biệt các ca nhiễm nặng, cũng đồng nghĩa giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh và qua đó góp phần hạn chế áp lực kháng thuốc trong cộng đồng.
Các vaccine phế cầu ngày càng được mở rộng phạm vi bao phủ, từ PCV7, PCV10, PCV13, PCV20 đến các vaccine thế hệ mới có phạm vi bảo vệ rộng hơn. Tuy nhiên, lựa chọn vaccine, thời điểm tiêm và lịch tiêm cần căn cứ vào tuổi của trẻ, loại vaccine và khuyến cáo của cơ quan y tế.




















