Tiến sĩ Lê Thị Hương Giang, Trưởng khoa Tiết chế, Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8 (Hà Nội) cho biết, dâu tằm là loại quả giàu hoạt chất sinh học có lợi cho sức khỏe. Trong khoảng 100g dâu tươi chứa 40-50kcal, gồm 8-10g đường tự nhiên, một lượng nhỏ chất xơ cùng vitamin C, vitamin K, kali và sắt.
Giá trị nổi bật nhất của dâu tằm nằm ở nhóm polyphenol, đặc biệt là anthocyanin, hợp chất tạo màu tím đặc trưng cho quả. Nhiều nghiên cứu cho thấy anthocyanin có khả năng chống oxy hóa, góp phần bảo vệ tế bào và hỗ trợ sức khỏe tim mạch ở mức độ nhất định.

Ngoài ra, dâu tằm còn được nhắc đến với hợp chất 1-deoxynojirimycin (DNJ), có liên quan đến kiểm soát đường huyết. Tuy nhiên, theo chuyên gia, DNJ chủ yếu tập trung ở lá dâu còn trong quả chín hàm lượng rất thấp, trong khi lượng đường lại khá cao.
Một quan niệm phổ biến khác là cho rằng dâu tằm “bổ máu” vì có màu tím sẫm. Theo TS Giang, màu tím của quả đến từ anthocyanin chứ không liên quan đến hemoglobin hay quá trình tạo máu. Hàm lượng sắt trong dâu tằm chỉ khoảng 1-2mg/100g và thuộc dạng non-heme nên cơ thể hấp thu không cao.
Tuy nhiên, dâu tằm vẫn có vai trò hỗ trợ hấp thu sắt nhờ chứa nhiều vitamin C. Khi dùng cùng các thực phẩm giàu sắt như thịt, cá, đậu, vitamin C trong dâu giúp tăng khả năng hấp thu sắt tại ruột non.
Nói cách khác, dâu tằm không phải “thuốc bổ máu” độc lập nhưng có thể góp phần tối ưu hóa hấp thu sắt nếu kết hợp hợp lý trong bữa ăn.
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, vấn đề an toàn thực phẩm cũng cần được đặc biệt lưu ý. Theo Tiến sĩ Giang, dâu tằm có vỏ mỏng, dễ dập, thường mọc sát đất nên nguy cơ nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc tồn dư hóa chất là có thật. Người dùng cần rửa kỹ trước khi ăn hoặc chế biến.
Khi ngâm siro, chuyên gia khuyến cáo không nên sử dụng dụng cụ bằng nhôm, đồng hoặc thép kém chất lượng. Các axit hữu cơ trong dâu có thể phản ứng với kim loại, làm biến đổi hương vị và có nguy cơ hòa tan kim loại vào nước uống. Bình thủy tinh hoặc đồ gốm sứ đạt chuẩn là lựa chọn phù hợp hơn.
Một sai lầm phổ biến khác là sử dụng dâu tằm dưới dạng ngâm đường như một loại nước uống hằng ngày. Thực tế, 1 kg dâu thường đi kèm 0,5-1 kg đường, khi đó phần nước uống chủ yếu là dung dịch đường, trong khi hoạt chất có lợi không tương xứng.
“Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới, lượng đường tự do nên dưới 25g/ngày, điều này cho thấy bạn chỉ cần uống một ly nước dâu ngâm cũng có thể vượt ngưỡng này nếu dùng thường xuyên”, Tiến sĩ Giang nhấn mạnh.
Vì thế, chuyên gia nhấn mạnh người mắc đái tháo đường, thừa cân, béo phì, người có dạ dày nhạy cảm và phụ nữ mang thai cần đặc biệt thận trọng với các chế phẩm nhiều đường hoặc có dấu hiệu lên men. Với người bình thường thì cũng không nên coi là đồ uống giải khát hằng ngày.






















