Sức khỏe

Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt: Ăn bao nhiêu là đủ để tránh tăng đường huyết?

Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt đều là những loại trái cây nhiệt đới được nhiều người yêu thích vào mùa hè vì hương vị thơm ngon và giá thành tương đối hợp lý. Các loại trái cây này thường có vị ngọt và là nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất, chất xơ cho cơ thể. Tuy nhiên, mọi người cần chú ý lượng ăn và cách ăn để thưởng thức trái cây ngon nhưng không ảnh hưởng tới sức khỏe, nhất là ở người có bệnh nền. Vì sao nói ăn nhiều trái cây chưa chắc tốt?

Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt: Ăn bao nhiêu là đủ để tránh tăng đường huyết? - Ảnh 1.

Sầu riêng là loại trái cây chứa nhiều calo, chỉ nên ăn khoảng 1 - 2 múi/ngày

ẢNH: NHƯ QUYÊN

Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Lâm Mỹ Dung, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Tim Tâm Đức (TP.HCM), vị ngọt của trái cây được tạo nên từ phức hợp các loại đường tự nhiên gồm fructose, glucose và sucrose. Trong đó, đường fructose (đường đơn monosaccharide) có cơ chế chuyển hóa khá đặc biệt, cụ thể:

Thực phẩm giàu fructose thường có chỉ số đường huyết (GI) thấp hơn so với thực phẩm giàu glucose, không kích thích tiết insulin mạnh như glucose, do đó không làm tăng đường huyết ngay sau ăn.

Quá trình chuyển hóa xảy ra chủ yếu tại gan, nơi fructose sẽ được biến đổi thành năng lượng hoặc tích trữ dưới dạng mỡ.

Tuy nhiên, các loại quả mùa hè như vải, sầu riêng, chôm chôm không chỉ chứa fructose mà còn chứa glucose và sucrose với tỷ lệ khác nhau. Từ đó, bác sĩ Dung lưu ý rằng việc ăn quá nhiều trong một lần có thể gây hại cho sức khỏe. Khi tiêu thụ quá nhiều fructose trong thời gian dài, gan có thể chuyển phần fructose dư thừa thành chất béo, làm tăng triglyceride trong máu và ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe tim mạch, đặc biệt ở người có rối loạn chuyển hóa.

“Với quả vải, mọi người nên ăn sau bữa ăn và không quá 9 quả mỗi ngày. Sầu riêng chỉ nên ăn khoảng 1 - 2 múi/ngày, cũng nên dùng sau khi ăn no. Đối với chôm chôm, nên giới hạn dưới 6 quả/ngày, ưu tiên quả tươi, vừa chín tới và tránh các sản phẩm chế biến nhiều đường. Riêng măng cụt, chỉ nên ăn tối đa 3 quả/ngày và không nên ăn liên tục mỗi ngày. Cần hiểu rằng không có loại trái cây nào hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt. Điều quan trọng nhất vẫn là khẩu phần ăn và tần suất sử dụng phù hợp”, bác sĩ Dung khuyến nghị.

Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt: Ăn bao nhiêu là đủ để tránh tăng đường huyết? - Ảnh 2.

Nếu ăn trái cây vượt quá nhu cầu của cơ thể, người dùng vẫn có thể gặp các vấn đề về đường huyết, tăng cân hoặc rối loạn mỡ máu

Ảnh: Như Quyên

Nguyên tắc “3 đúng” khi ăn trái cây để bảo vệ sức khỏe

Bác sĩ Mỹ Dung cho biết, một trong những điều bị người dân hiểu sai nhưng rất phổ biến là “trái cây tự nhiên nên ăn càng nhiều càng tốt”. Thực tế, trái cây là thực phẩm lành mạnh nhưng vẫn chứa đường và năng lượng. Nếu ăn vượt quá nhu cầu của cơ thể, người dùng vẫn có thể gặp các vấn đề về đường huyết, tăng cân hoặc rối loạn mỡ máu. Ngay cả một loại trái cây có chỉ số đường huyết thấp cũng có thể gây tăng đường huyết nếu ăn quá nhiều trong một lần.

Do đó, thay vì đặt câu hỏi “ăn loại quả nào tốt nhất?”, mọi người nên quan tâm đến việc ăn bao nhiêu, ăn khi nào và ăn như thế nào. Đặc biệt với người mắc tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch hoặc rối loạn chuyển hóa, việc tuân thủ nguyên tắc “đúng loại - đúng lượng - đúng thời điểm” càng quan trọng, cụ thể:

Đúng loại: Nên ưu tiên các loại trái cây có chỉ số đường huyết (GI) hoặc tải lượng đường huyết (GL) thấp; đồng thời lựa chọn trái cây tươi, vừa chín, không nên ăn trái cây quá chín hay các sản phẩm chế biến sẵn, đóng hộp hoặc thêm đường.

Đúng lượng: Ăn với liều lượng vừa phải để tránh làm tăng tải lượng đường huyết trong ngày. Cần điều chỉnh tùy theo tình trạng bệnh lý, cân nặng và tổng khẩu phần ăn trong ngày của từng người.

Đúng thời điểm: Nên ưu tiên ăn trái cây sau bữa ăn thay vì ăn khi bụng đói, không nên ăn dồn quá nhiều trong một lần. Việc phân bổ lượng trái cây hợp lý trong ngày sẽ giúp kiểm soát lượng đường nạp vào mỗi lần ăn, đồng thời hạn chế dao động đường huyết.

//Chèn ads giữa bài (runinit = window.runinit || []).push(function () { //Nếu k chạy ads thì return if (typeof _chkPrLink != 'undefined' && _chkPrLink) return; var mutexAds = '<zone id="l2srqb41"></zone>'; var content = $('[data-role="content"]'); if (content.length > 0) { var childNodes = content[0].childNodes; for (i = 0; i < childNodes.length; i++) { var childNode = childNodes[i]; var isPhotoOrVideo = false; if (childNode.nodeName.toLowerCase() == 'div') { // kiem tra xem co la anh khong? var type = $(childNode).attr('class') + ''; if (type.indexOf('VCSortableInPreviewMode') >= 0) { isPhotoOrVideo = true; } } try { if ((i >= childNodes.length / 2 - 1) && (i < childNodes.length / 2) && !isPhotoOrVideo) { if (i <= childNodes.length - 3) { childNode.after(htmlToElement(mutexAds)); arfAsync.push("l2srqb41"); } break; } } catch (e) { } } } }); function htmlToElement(html) { var template = document.createElement('template'); template.innerHTML = html; return template.content.firstChild; }
if (window.pageSettings && pageSettings.allow3rd && (typeof window._isAdsHidden === 'undefined' || !window._isAdsHidden)) { if (!laNuocNgoai) { (function (w, q) { w[q] = w[q] || []; w[q].push(["_mgc.load"]); })(window, "_mgq"); } } (function() { if (!(window.pageSettings && pageSettings.allow3rd && (typeof window._isAdsHidden === 'undefined' || !window._isAdsHidden))) return; if (typeof window.laNuocNgoai === 'undefined' || !window.laNuocNgoai) return; // chỉ chạy khi laNuocNgoai true var containerSelector = 'div.detail-cmain'; var root = document.querySelector(containerSelector); if (!root) return; // Thu thập figure + p (p không nằm trong figure) var figures = Array.from(root.querySelectorAll('figure')); var paragraphs = Array.from(root.querySelectorAll('p')).filter(function(p){ return !p.closest('figure'); }); var elements = figures.concat(paragraphs); // NodeList vốn đã theo DOM order => không cần sort if (!elements.length) return; var target = elements[Math.floor(elements.length / 2)]; // giữa bài if (!target || !target.parentNode) return; var newDiv = document.createElement('div'); newDiv.id = 'taboola-mid-article-widget'; target.parentNode.insertBefore(newDiv, target.nextSibling); window._taboola = window._taboola || []; window._taboola.push({ mode: 'thumbnails-4x1', container: 'taboola-mid-article-widget', placement: 'Mid Article Widget', target_type: 'mix' }); })();

Các tin khác

Nước luộc rau nên đổ bỏ hay giữ lại để nấu ăn?

Nước luộc rau nên đổ bỏ hay giữ lại để nấu ăn?

Khi rau luộc trong nước sôi, nhiệt độ cao sẽ làm thành tế bào thực vật mềm ra, giúp một số dưỡng chất hòa tan vào nước. Hiện tượng này xảy ra rõ nhất với các vitamin tan trong nước như vitamin C và vitamin B.
Thích ăn nhiều nước chấm: Thận có thể phải "gánh" hậu quả

Thích ăn nhiều nước chấm: Thận có thể phải "gánh" hậu quả

Nước chấm là gia vị không thể thiếu trong nhiều bữa ăn của người Việt. Tuy nhiên, thói quen chấm nhiều nước mắm, nước tương hay các loại sốt mặn có thể khiến cơ thể nạp vào lượng muối vượt khuyến cáo, từ đó làm tăng gánh nặng cho thận và nhiều cơ quan khác.
Suy thận đến mức nào mới cần chạy thận?

Suy thận đến mức nào mới cần chạy thận?

Khi chức năng thận suy giảm nghiêm trọng, các chất độc và dịch thừa sẽ tích tụ trong cơ thể. Tình trạng này làm tăng nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng nguy hiểm. Người bệnh khi đó có thể cần phải chạy thận.