Bác sĩ hướng dẫn cách vận động sau mổ tim
Người bệnh nên tập gập cổ chân trong những ngày đầu sau mổ, sau đó đi bộ vài phút và tăng dần thời gian lên 20-40 phút mỗi buổi khi vết mổ và xương ức đã lành.
Vận động sớm và phục hồi chức năng tim mạch sau phẫu thuật giúp cải thiện khả năng gắng sức, tuần hoàn, hô hấp. Người bệnh còn ngủ ngon, giảm lo âu sau mổ.
ThS.BS.CKII Huỳnh Hoàng Khang, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết trước đây, phẫu thuật tim thường thực hiện qua đường mổ dọc giữa xương ức dài 15-20 cm, khiến người bệnh đau nhiều và phục hồi vận động chậm sau mổ. Hiện, kỹ thuật mổ tim hiện đại như phẫu thuật ít xâm lấn (MICS), mổ tim qua đường mổ nhỏ đường nách/dưới sườn... giúp bảo tồn xương ức, hạn chế mất máu và nguy cơ nhiễm trùng. Nhờ đó, người bệnh ít đau, vết mổ nhỏ, có thể vận động ngay từ những ngày đầu sau mổ.
Bác sĩ hướng dẫn người bệnh vận động đúng cách sau mổ tim.
Giai đoạn một: Phục hồi tại bệnh viện (những ngày đầu sau mổ)
Giai đoạn tập luyện đầu tiên thường bắt đầu sớm, ngay khi tình trạng huyết động và hô hấp của người bệnh ổn định. Mục tiêu là hạn chế biến chứng do nằm bất động, cải thiện thông khí phổi, duy trì tuần hoàn, khôi phục khả năng vận động. Người bệnh được hướng dẫn gập cổ chân về phía đầu gối rồi duỗi ra, kết hợp các bài tập hít thở sâu và tập ho để phổi nở tốt, hỗ trợ tống đàm, phòng ngừa xẹp phổi.
Những ngày tiếp theo, nếu huyết động ổn định và không có biến chứng, người bệnh sẽ ngồi dậy và bắt đầu đi lại đoạn đường ngắn. Đi bộ chậm khoảng 3-5 phút, 2-3 lần mỗi ngày, dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế.
Khi ngồi trên ghế, người bệnh từ từ nâng từng đầu gối rồi hạ xuống, lặp lại khoảng 10 lần mỗi chân để duy trì sức mạnh cơ chi dưới. Quãng đường và thời gian đi bộ sau đó được tăng dần tùy khả năng thích nghi của từng người.
Bệnh nhân được hướng dẫn vận động trong giai đoạn đầu sau phẫu thuật tim. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Giai đoạn hai: Phục hồi ban đầu tại nhà (khoảng 1-6 tuần)
6 tuần đầu sau khi xuất viện là giai đoạn quan trọng để người bệnh từng bước lấy lại sức bền. Nguyên tắc là tăng mức vận động từ từ, đều đặn và phù hợp với khả năng của từng người.
Trong tuần đầu, bệnh nhân đi bộ khoảng 5-10 phút trên bề mặt phẳng, 2-3 lần mỗi ngày. Cường độ phù hợp là mức người bệnh vẫn có thể nói chuyện tương đối thoải mái trong lúc đi bộ.
Nếu thích nghi tốt, thời gian đi bộ được tăng thêm 5 phút sau mỗi vài ngày. Đến tuần thứ 3, 4, nhiều bệnh nhân có thể đi liên tục 15-20 phút. Sau 6 tuần, hướng tới khoảng 30 phút vận động mức độ vừa mỗi ngày hoặc hầu hết các ngày trong tuần, tùy tình trạng tim mạch và khả năng phục hồi.
Giai đoạn ba: Phục hồi nâng cao (6-12 tuần)
Từ khoảng tuần thứ 6, nếu quá trình lành vết mổ và xương ức thuận lợi, người bệnh có thể từng bước tăng cường độ vận động. Đây cũng là giai đoạn phù hợp để tham gia chương trình phục hồi chức năng tim mạch có giám sát.
Một buổi tập kéo dài 20-40 phút, bao gồm khởi động, vận động aerobic và thả lỏng. Người bệnh được chọn đi bộ trên máy, xe đạp tại chỗ hoặc hình thức vận động phù hợp khác.
Các bài tập kháng lực được đưa vào chương trình khi tình trạng bệnh nhân ổn định và vết mổ lành tốt, bắt đầu với mức kháng lực thấp rồi tăng dần. Trong lúc tập, người bệnh cần duy trì hơi thở đều, thở ra khi gắng sức và hít vào khi thả lỏng, tránh nín thở.
Bác sĩ Khang lưu ý, đối với các loại phẫu thuật được thực hiện qua đường mở giữa xương ức, xương cần nhiều tuần để liền vững chắc. Vì vậy trong giai đoạn đầu, người bệnh cần tránh những hoạt động gây đau hoặc tạo lực quá mức lên xương ức.
Bệnh nhân không lái xe ít nhất 4-6 tuần sau mổ. Khi ho hoặc hắt hơi, có thể ôm một chiếc gối hoặc dùng hai tay đỡ nhẹ vùng ngực để giảm đau và tạo cảm giác vững chắc cho xương ức. Không nên cố nhịn ho vì ho hỗ trợ làm sạch đường thở sau mổ.
Người bệnh nên ngừng vận động và nghỉ ngơi nếu có dấu hiệu đau hoặc tức ngực, khó thở bất thường, chóng mặt, choáng váng, đánh trống ngực kéo dài. Người bệnh đến bệnh viện nếu các triệu chứng không cải thiện khi nghỉ, nhịp tim nhanh hay không đều, sốt từ 38 độ C, vết mổ đỏ nóng, sưng đau hoặc chảy dịch.




















