BS.CKI Lý Minh Hoàng, Trung tâm Tiết niệu - Thận học - Nam khoa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết ung thư tuyến tiền liệt thường không có triệu chứng giai đoạn đầu nên tầm soát định kỳ có thể giúp phát hiện sớm, tăng cơ hội chữa khỏi bệnh. Mục tiêu là xác định bệnh ở giai đoạn khu trú, khi khối u chưa xâm lấn ra ngoài vỏ bao hay di căn xa.
Theo bác sĩ Hoàng, việc tầm soát hiện nay rất đơn giản, không xâm lấn, độ chính xác cao. Dựa trên độ tuổi, yếu tố gia đình và các triệu chứng liên quan đến đường tiết niệu, bác sĩ chỉ định các phương pháp tầm soát phù hợp.
Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA)
Đây là phương pháp tầm soát quan trọng và phổ biến nhất hiện nay. PSA là một loại protein được sản xuất bởi các tế bào của tuyến tiền liệt. Khi tuyến tiền liệt gặp vấn đề như viêm, phì đại hoặc có khối u ác tính, nồng độ PSA trong máu sẽ tăng cao. Nếu chỉ số PSA trên 4 ng/mL, người bệnh thuộc nhóm nguy cơ và cần thực hiện thêm các xét nghiệm chuyên sâu.
Bác sĩ Hoàng lưu ý chỉ số PSA tăng không đồng nghĩa với ung thư, nhưng là chỉ dấu sớm nhất để tiếp tục theo dõi và chẩn đoán phân biệt.
Khám trực tràng
Thăm khám bề mặt tuyến tiền liệt qua đường trực tràng giúp đánh giá kích thước, độ cứng và kiểm tra xem có các nhân cứng, nốt sần hay vùng bất thường nào hay không. Phương pháp này đôi khi có thể phát hiện ra những khối u ở nam giới có chỉ số PSA bình thường. Kết hợp giữa xét nghiệm PSA và thăm khám trực tràng giúp tăng đáng kể tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
Bác sĩ Hoàng tư vấn các phương pháp tầm soát ung thư tuyến tiền liệt. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Siêu âm tuyến tiền liệt
Phương pháp siêu âm qua đường hậu môn (trực tràng), giúp bác sĩ quan sát và đánh giá kích thước tuyến tiền liệt, phát hiện tình trạng phì đại lành tính, các ổ viêm nhiễm hoặc các khối u cục bộ. Tuy nhiên, ở giai đoạn khởi phát, các tổn thương ung thư thường có kích thước rất nhỏ hoặc có mật độ mô khó phân biệt, khiến siêu âm khó khẳng định tổn thương lành hay ác. Do đó, phương pháp này thường được sử dụng như một công cụ hỗ trợ để đánh giá ban đầu, xác định các tổn thương lành tính như viêm tuyến tiền liệt, áp xe tuyến tiền liệt... hoặc hướng dẫn vị trí chọc kim khi sinh thiết.
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Trường hợp người bệnh có nguy cơ cao mắc ung thư tuyến tiền liệt, bác sĩ chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) để đánh giá chuyên sâu. Hình ảnh MRI chi tiết cho phép quan sát rõ nét cấu trúc bên trong tuyến tiền liệt, xác định vị trí và đặc điểm của các vùng nghi ngờ tổn thương. Dựa trên thang điểm PI-RADS (hệ thống báo cáo và dữ liệu hình ảnh tuyến tiền liệt), các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh phân loại mức độ nguy cơ của khối u theo thang điểm từ một đến 5.
Nếu kết quả MRI cho thấy vùng nghi ngờ ở mức cao, bác sĩ có thể chỉ định sinh thiết đích. Phương pháp này giúp lấy mẫu mô chính xác tại vùng tổn thương, tránh những can thiệp xâm lấn không cần thiết cho những người bệnh có nguy cơ thấp.
Hình ảnh MRI còn đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn đường cho kim sinh thiết và đánh giá mức độ xâm lấn của khối u, giúp bác sĩ lập kế hoạch điều trị tối ưu nếu u ác tính.
Hệ thống MRI Magnetom Amira 1.5T giúp phát hiện các tổn thương rất nhỏ ở tuyến tiền liệt. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Sinh thiết tuyến tiền liệt
Nếu kết quả xét nghiệm PSA và chẩn đoán hình ảnh cho thấy nguy cơ cao, sinh thiết là bước cuối cùng để khẳng định bệnh. Bác sĩ sử dụng kim nhỏ để lấy các mẫu mô từ tuyến tiền liệt và kiểm tra dưới kính hiển vi nhằm xác định có tế bào ung thư hay không.
Bác sĩ Hoàng khuyến cáo nam giới từ 50 tuổi trở lên nên tầm soát ung thư tuyến tiền liệt định kỳ mỗi năm một lần. Người có tiền sử gia đình (cha hoặc anh em trai mắc bệnh) nên tầm soát từ tuổi 40 hoặc 45 để phát hiện sớm bất thường và can thiệp kịp thời.





















