
Ảnh minh họa được tạo bởi AI.
Vì sao tỷ giá ổn định giữa nhiều biến động?
Trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường ngoại hối chịu nhiều sức ép khi kinh tế - chính trị thế giới diễn biến khó lường; mặt bằng lãi suất USD quốc tế duy trì ở mức cao; trong khi cung - cầu ngoại tệ trong nước gặp nhiều thách thức và tâm lý thị trường có thời điểm biến động mạnh.
Dù vậy, tỷ giá vẫn giữ được sự ổn định. Đến ngày 30/6/2026, tỷ giá liên ngân hàng chỉ tăng 0,07% so với cuối năm 2025, neo quanh mức 26.308 VND/USD. So với nhiều đồng tiền trong khu vực như baht Thái Lan hay rupiah Indonesia, mức biến động của VND được đánh giá là khá thấp. Kết quả này phản ánh hiệu quả của chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt, đồng thời cho thấy nguồn cung ngoại tệ trong nước vẫn được bảo đảm.
Theo ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN đã điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, qua đó góp phần hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài và ổn định thị trường ngoại hối.
Để đạt được kết quả này, NHNN đã sử dụng đồng bộ nhiều công cụ điều hành. Thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), hoán đổi ngoại tệ và điều hành lãi suất, cơ quan quản lý điều tiết thanh khoản VND phù hợp, góp phần hạn chế đầu cơ và giảm áp lực lên tỷ giá.
Bên cạnh đó, NHNN chủ động bán can thiệp ngoại tệ vào những thời điểm cung - cầu ngoại tệ mất cân đối hoặc thị trường chịu tác động từ yếu tố tâm lý, qua đó hạn chế biến động tỷ giá.
Đồng thời, NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất huy động đối với tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Giải pháp này vừa góp phần duy trì mặt bằng lãi suất VND ở mức hợp lý để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối.
Bên cạnh chính sách điều hành, nền tảng kinh tế vĩ mô tích cực cũng tạo lực đỡ quan trọng cho tỷ giá. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm 2025; vốn FDI thực hiện đạt trên 13 tỷ USD - mức cao nhất trong 5 năm. Dòng vốn đầu tư nước ngoài liên tục chảy vào đã bổ sung nguồn cung ngoại tệ dồi dào cho thị trường, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.
Cùng với đó, GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% - mức cao nhất trong nhiều năm, phản ánh đà phục hồi và tăng trưởng tích cực của nền kinh tế. Những yếu tố này đã tạo nền tảng vững chắc cho thị trường ngoại hối, giúp VND duy trì sự ổn định trước biến động của đồng USD và thị trường tài chính quốc tế, đồng thời củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với triển vọng kinh tế Việt Nam.

Tỷ giá những tháng cuối năm nhiều khả năng sẽ tiếp tục được kiểm soát trong biên độ hợp lý. Ảnh: TTXVN
Áp lực cuối năm vẫn hiện hữu
Dù duy trì sự ổn định trong nửa đầu năm, tỷ giá được dự báo sẽ đối mặt với nhiều sức ép trong những tháng cuối năm 2026.
Theo các chuyên gia của MBS Research, áp lực đầu tiên đến từ môi trường quốc tế. Nếu xung đột tại Trung Đông tiếp tục kéo dài, giá dầu và nhiều loại nguyên liệu đầu vào có thể tăng thêm, làm gia tăng chi phí nhập khẩu của Việt Nam và kéo theo nhu cầu ngoại tệ lớn hơn.
Ở góc độ thương mại, ông Jung Hyo Chang - Giám đốc phụ trách Mảng Giao dịch Ngoại hối và Phái sinh, Ngân hàng Shinhan Việt Nam - cho rằng những điều chỉnh trong chính sách thương mại và thuế quan của Mỹ cùng xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tác động đáng kể đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng như dòng chảy ngoại tệ vào Việt Nam.
Một yếu tố quan trọng khác gây áp lực lên các đồng tiền của thị trường mới nổi, trong đó có VND, là chính sách tiền tệ của Mỹ. Theo PGS,TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phát tín hiệu duy trì lãi suất cao lâu hơn dự kiến khiến chênh lệch lãi suất VND - USD khó mở rộng theo hướng có lợi cho đồng Việt Nam.
Áp lực tỷ giá còn đến từ cán cân cung - cầu ngoại tệ trong nước. Nửa đầu năm 2026, Việt Nam ghi nhận nhập siêu khoảng 16,6 tỷ USD, làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ trên thị trường. Trong khi đó, theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), dự trữ ngoại hối của Việt Nam tương đương khoảng 2,4 tháng nhập khẩu. Điều này cho thấy NHNN vẫn còn dư địa can thiệp thị trường, nhưng khó có thể duy trì việc bán ngoại tệ với quy mô lớn trong thời gian dài.
Đánh giá về cán cân thanh toán, PGS,TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng bức tranh tổng thể chưa đến mức tiêu cực, song mức độ hỗ trợ đối với tỷ giá đã yếu hơn so với các năm trước. Dòng vốn FDI vẫn là điểm sáng, song tác động này phần nào bị bù đắp bởi nhập siêu hàng hóa, chi phí năng lượng gia tăng và nhu cầu ngoại tệ tăng cao vào cuối năm.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, yếu tố mùa vụ cũng sẽ tạo thêm áp lực lên tỷ giá. Đây là giai đoạn doanh nghiệp tăng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc phục vụ sản xuất, đồng thời phát sinh nhu cầu trả nợ nước ngoài, chuyển lợi nhuận của khu vực FDI và gia tăng hoạt động phòng ngừa rủi ro tỷ giá, khiến nhu cầu mua USD thường tăng mạnh.
Mặc dù vậy, giới phân tích đều cho rằng khả năng tỷ giá biến động mạnh như năm 2025 là không lớn. Ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu của UOB (Singapore) - nhận định tỷ giá USD/VND sẽ giảm dần từ khoảng 26.500 đồng/USD trong quý III/2026 xuống 26.400 đồng/USD trong quý IV/2026, 26.300 đồng/USD trong quý I/2027 và khoảng 26.100 đồng/USD trong quý II/2027.
Trong khi đó, Viện Kinh tế - Tài chính dự báo tỷ giá USD/VND cả năm 2026 tăng khoảng 1-2,5% so với cùng kỳ năm trước. Theo MBS Research, tỷ giá cuối năm sẽ dao động trong khoảng 26.800-27.000 đồng/USD, tương ứng mức tăng khoảng 2-2,8% so với đầu năm.
Có thể thấy, áp lực tỷ giá trong những tháng cuối năm vẫn hiện hữu do tác động từ môi trường quốc tế, yếu tố mùa vụ và nhu cầu ngoại tệ gia tăng. Tuy nhiên, với nền tảng kinh tế vĩ mô tích cực, dòng vốn FDI tiếp tục duy trì khả quan và đặc biệt là sự chủ động, linh hoạt trong điều hành của NHNN, tỷ giá nhiều khả năng sẽ tiếp tục được kiểm soát trong biên độ hợp lý, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng./.
Theo định hướng điều hành những tháng cuối năm 2026, NHNN tiếp tục theo sát diễn biến thị trường quốc tế và trong nước, điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.


