Mới đây, sự việc một hộ dân tại phường Bắc Giang (Bắc Ninh) đào móng xây dựng công trình khiến căn nhà liền kề bị nứt toác, nghiêng lún, 10 hộ dân lân cận cũng phải sơ tán khẩn cấp đã thu hút sự chú ý của nhiều người.
Theo đó, công trình nhà dân của gia đình ông Nguyễn Văn C. (số nhà 31) đang đào móng để thi công xây dựng. Do ảnh hưởng từ việc múc đất sâu, căn nhà số 33 đường Thánh Thiên nằm liền kề (cửa hàng kinh doanh giày dép, túi xách của bà Nguyễn Thị Nh.) bị sụt lún nghiêm trọng.
Liên quan tới vấn đề này, Ts. Ls. Đặng Văn Cường thông tin, công trình đào móng xây dựng ảnh hưởng đến các công trình lân cận, thậm chí gây hư hỏng, sập đổ là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra, thực tế những vụ việc đào móng dẫn đến đổ nhà hàng xóm xảy ra không ít, đặc biệt là trong các thành phố lớn khi xây dựng ở những nơi có nền địa chất yếu hoặc công trình hư hỏng, xuống cấp, không đảm bảo an toàn.
Trường hợp một công trình đang đào móng dẫn đến lún, nứt, hư hỏng, đổ sập công trình xung quanh thì cơ quan chức năng sẽ tạm đình chỉ thi công công trình, tiến hành xác minh làm rõ nguyên nhân sự việc để có các giải pháp đảm bảo an toàn cho người dân, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại về người và tài sản có thể xảy ra.
Những sự cố phát sinh từ hoạt động xây dựng có thể có lỗi từ chủ đầu tư công trình, của đơn vị thi công hoặc cũng có thể không có lỗi, việc công trình lân cận hư hỏng là do các nguyên nhân khác như nền địa chất yếu, công trình lân cận hết thời hạn sử dụng, xuống cấp không đảm bảo an toàn. Để xác định là chủ đầu tư công trình, đơn vị thi công có lỗi hay không thì phải căn cứ vào thiết kế của công trình, phương pháp thi công, điều kiện về xây dựng cũng như các yếu tố kỹ thuật trong xây dựng có đảm bảo hay không.

Ts. Ls. Đặng Văn Cường
Trong trường hợp công trình xây dựng là có giấy phép, có thiết kế, thi công theo đúng thiết kế, đảm bảo các nguyên tắc, thông số kĩ thuật và các điều kiện để đảm bảo an toàn nhưng vẫn có sự cố xảy ra, việc xảy ra sự cố là không mong muốn và không thể lường trước được thì có thể xác định chủ công trình, đơn vị thì công không có lỗi. Về mặt lý luận thì 1 người chỉ được coi là có lỗi nếu như họ tự do về ý chí, có khả năng nhận thức nhưng đã lựa chọn cách hành vi ứng xử không phù hợp với chuẩn mực. Về nguyên tắc là hành vi có lỗi, gây thiệt hại đến tài sản của người khác thì người có lỗi phải bồi thường thiệt hại. Trong 1 số trường hợp pháp luật có quy định nếu hành vi gây thiệt hại không có lỗi thì vẫn phải bồi thường thiệt hại, đó là các tình huống bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Trong vụ việc này, việc đầu tiên là chính quyền địa phương sẽ yêu cầu chủ đầu tư công trình này phải tạm dừng thi công để kiểm tra hồ sơ thiết kế, điều kiện xây dựng cũng như các yếu tố đảm bảo an toàn cho công trình. Đồng thời sẽ đánh giá về đặc điểm địa chất, kết cấu, chất lượng của các công trình lân cận để xác định nguyên nhân sự cố, cần phải có các đơn vị giám định độc lập, các đơn vị chuyên môn về xây dựng, có trình độ chuyên môn kỹ thuật để đánh giá mức độ thiệt hại, nguyên nhân thiệt hại, từ đó có những giải pháp để giảm thiểu những thiệt hại đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý.
Nếu kết quả xác minh của cơ quan chức năng xác định chủ đầu tư công trình hoặc đơn vị thi công có lỗi, xây dựng không có giấy phép, không tuân thủ giấy phép, phương pháp thi công không đảm bảo an toàn hoặc không tuân thủ các tiêu chuẩn kĩ thuật dẫn đến hư hỏng các công trình lân cận thì người có lỗi phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra đối với các hộ lân cận.
Cũng có thể có trường hợp lỗi hỗn hợp hoặc thiệt hại do 1 phần lỗi của đơn vị thi công thì chỉ bồi thường tương ứng với phần lỗi của mình.
Cụ thể vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ được thực hiện theo quy định của bộ luật dân sự hiện hành, cụ thể nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này. (nội dung này được quy định tại Điều 584 BLDS).
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là: Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Việc bồi thường thiệt hại sẽ dựa trên nguyên tắc hành vi và nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc chung là thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó, trừ trường hợp thiệt hại quá lớn so với khả năng bồi thường hoặc người gây thiệt hại chỉ có 1 phần lỗi.
Bộ luật dân sự có quy định đối với từng loại thiệt hại, trong đó thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về tài sản có những quy định riêng về cách xác định thiệt hại, về mức thiệt hại và trách nhiệm pháp lý trong việc bồi thường thiệt hại. Cụ thể thiệt hại về tài sản được bộ luật dân sự quy định như sau:
“Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
- Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Thiệt hại khác do luật quy định”.
Bởi vậy, các gia đình lân cận bị ảnh hưởng bởi công trình này sẽ căn cứ vào quy định pháp luật trên để xác định thiệt hại, làm cơ sở yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định.
Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra nếu người gây thiệt hại có lỗi và có khả năng bồi thường thiệt hại.
Việc xác định thiệt hại do đâu, nguyên nhân nào dẫn đến thiệt hại, mức độ thiệt hại như thế nào, bên nào có lỗi là những yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức độ bồi thường và các vấn đề có liên quan. Vụ việc này có liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên môn kĩ thuật như về xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, về địa chất, về đất đai, nhà ở, về xây dựng và căn cứ vào các quy định của bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết. Các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết, nếu không thỏa thuận được thì có thể đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc xác minh làm rõ để xử lý hoặc khởi kiện đến tòa tòa án để được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp xác định thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra hoặc thiệt hại do tài sản gây ra thì người gây thiệt hại có lỗi hoặc chủ sở hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại theo quy định của bộ luật dân sự:
Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.









