Giá USD giảm sát đáy một năm qua
Trong tuần qua, các ngân hàng (NH) thương mại đã giảm Giá USD thêm 100 đồng, xuống mức thấp nhất trong năm. Giá USD tại Vietcombank về 25.700 - 25.730 đồng/USD ở chiều mua vào, bán ra 26.110 đồng; ACB mua với giá 25.700 - 25.730 đồng, bán ra 26.090 đồng… So với đầu năm, giá USD đã giảm 267 đồng, tương đương mất hơn 1%. Trên thị trường liên NH, tỷ giá USD/VND đã giảm 4 tháng liên tiếp và về sát đáy một năm. Cụ thể, vào cuối tuần qua, giá USD giao dịch giữa các NH với nhau giảm 0,05%, xuống 25.915 đồng/USD, giảm 1,85% so với đầu năm và mất gần 2% trong vòng một năm trở lại đây.
Đáng nói, trên thị trường tự do, giá đồng bạc xanh thậm chí còn thấp hơn NH, mua vào ở mức 25.880 đồng và bán ra 25.980 đồng. Từ đầu tháng 9 đến nay, tỷ giá trung tâm do NH Nhà nước (NHNN) công bố cũng đi ngang sau một thời gian dài tăng kể từ cuối tháng 5 đến nay. Ngày 12.9, tỷ giá trung tâm ở mức 25.596 đồng/USD, tăng 457 đồng/USD so với cuối tháng 5, tương đương 1,8%, trong khi so với đầu năm thì mức tăng vào khoảng 475 đồng/USD. Giá bán USD của NHNN cao hơn các NH khoảng 800 đồng, ở mức 26.825 đồng; còn chiều mua vào ở mức 24.367 đồng, thấp hơn giá mua của các NH gần 1.400 đồng.

Nguồn ngoại tệ dồi dào giúp giá USD giảm
ẢNH: NGỌC THẮNG
Diễn biến giá USD năm nay hoàn toàn trái ngược các năm trước trong bối cảnh con số nhập siêu vượt qua mức 20 tỉ USD. Lý giải điều này, Công ty CP chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng số liệu xuất nhập khẩu chưa phản ánh đầy đủ diễn biến của thị trường ngoại hối. Để đánh giá áp lực tỷ giá cần nhìn vào dòng cung - cầu ngoại tệ thực tế, trong khi số liệu xuất nhập khẩu chỉ ghi nhận giá trị tại thời điểm hàng hóa đi qua biên giới, không đồng nghĩa với việc dòng tiền thanh toán bằng ngoại tệ phát sinh ngay tại thời điểm đó. Vì vậy, có thể xuất hiện những giai đoạn nhập khẩu tăng mạnh nhưng tỷ giá chưa chịu áp lực đáng kể. Ngược lại, cũng có thời điểm xuất siêu ở mức cao nhưng tỷ giá vẫn tăng. Áp lực lên tỷ giá chỉ thực sự xuất hiện khi dòng ngoại tệ phát sinh trên thị trường.
Nguyên nhân giá USD giảm đến từ nguồn ngoại tệ trên thị trường gia tăng bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 40,63 tỉ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện ước đạt 17,25 tỉ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI giải ngân cao nhất của 8 tháng trong vòng 5 năm qua. Không những vậy, các NH, doanh nghiệp trong nước gần đây gia tăng nguồn vốn vay ngoại tệ từ các tổ chức nước ngoài. Trong đó, VPBank đang dẫn đầu về vay vốn nước ngoài. Hồi cuối tháng 6, NH này đã ký kết khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỉ USD (gần 38.000 tỉ đồng) với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế, cao hơn mức dự kiến thu xếp ban đầu là 1,2 tỉ USD. Đứng thứ hai là HDBank với khoản vay 721 triệu USD vào tháng 7.2026, cao hơn mức dự kiến ban đầu huy động 450 triệu USD. Hay Masan thành công khoản vay hợp vốn quốc tế tín chấp được bảo lãnh thu xếp trị giá 750 triệu USD…
Công ty chứng khoán Yuanta VN nhận định giá USD giảm do đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế giảm 0,21% và nguồn cung trong nước dồi dào hơn. Một yếu tố tiếp tục hỗ trợ tỷ giá là giá vàng khi chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục âm. Mặc dù tăng nhưng giá vàng trong nước tăng chậm hơn thế giới, có lúc thấp hơn khoảng 5 triệu đồng/lượng. Trong ngắn hạn, tỷ giá nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định. Tuy nhiên, nhập siêu vẫn lớn và khả năng tăng lãi suất của Fed vào tháng 9 có thể tạo áp lực lên tỷ giá.
Giá USD giảm, đỡ gây áp lực lạm phát, lãi suất
Chuyên gia NH Đào Hồng Châu nhìn nhận tỷ giá giảm có tác động tích cực đến cả kinh tế vĩ mô lẫn mặt bằng lãi suất. Đầu tiên là thu hút và giữ chân dòng vốn ngoại. Thực tế, nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt chú trọng đến sự ổn định của tỷ giá. Khi giá USD giảm hoặc ổn định, mối lo ngại về việc đồng tiền VN mất giá làm bào mòn lợi nhuận đầu tư sẽ được giải tỏa. Nhờ vậy, doanh nghiệp FDI yên tâm giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì rút ngoại tệ về nước. Dòng vốn ngoại quay trở lại giúp củng cố tỷ giá và tạo động lực cho sự phát triển kinh tế chung đồng thời tạo điều kiện điều hành chính sách tiền tệ. Khi thị trường ngoại tệ dư thừa, NHNN có môi trường thuận lợi để tập trung vào mục tiêu cao nhất là ổn định kinh tế vĩ mô.
Không những vậy, khi doanh nghiệp gia tăng vay nợ nước ngoài (do hết room tín dụng trong nước) rồi bán USD lấy VND, lượng ngoại tệ bán ra làm giá USD đi xuống. Điều này làm dịu áp lực lên lãi suất VND. Quá trình bán USD này đồng thời cung ứng thêm nguồn vốn tiền đồng vào thị trường, tác động tích cực ngược trở lại giúp hỗ trợ và hạ nhiệt áp lực lên lãi suất VND.
Giá USD giảm, theo ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc đầu tư Công ty chứng khoán ABS, sẽ giúp hạ bớt áp lực lên lạm phát và các cân đối vĩ mô, nhất là trong bối cảnh VN đang nhập siêu lớn như hiện nay. Hàng hóa nhập về không bị tăng giá do tỷ giá mang lại. Không những vậy, áp lực đối với nghĩa vụ nợ bằng ngoại tệ của nhà nước, doanh nghiệp với phía nước ngoài cũng được giảm bớt. Đáng chú ý, nguồn ngoại tệ vào nền kinh tế đang được hỗ trợ bởi tín dụng ngoại tệ, hoạt động vay vốn nước ngoài của doanh nghiệp và NH, cùng dòng vốn FDI giải ngân. Đây cũng là cơ hội để NHNN tranh thủ củng cố dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, việc tăng mạnh giá mua ngoại tệ để gia tăng dự trữ cần được cân nhắc thận trọng. Nếu nhu cầu ngoại tệ thanh toán tăng trở lại trong khi nguồn cung không đủ, tỷ giá có thể bật tăng mạnh, gây tác động ngược đến thị trường.
Ông Nguyễn Thế Minh nhấn mạnh tỷ giá đang là một trong những biến số tương đối ổn định, qua đó giúp giảm bớt gánh nặng điều hành chính sách tiền tệ. Trong thời gian tới, nếu nguồn ngoại tệ tiếp tục đổ vào nhiều như thời gian vừa qua thì việc tăng dự trữ sẽ thuận lợi hơn. Trong đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia, quy mô dự trữ ngoại hối là một trong những yếu tố được xem xét. Nếu tận dụng được giai đoạn tỷ giá thuận lợi này để tăng dự trữ, trong thời gian tới chúng ta có thể cải thiện thêm về mặt xếp hạng tín nhiệm.
Khi giá USD giảm mạnh, NHNN không nhất thiết phải cố mua USD và giảm giá mua trên thị trường. Việc mua ngoại tệ để tăng dự trữ không phải mục tiêu cao nhất mà lớn hơn là ổn định thị trường ngoại hối. Nếu thị trường chỉ dư một lượng USD nhỏ, chẳng hạn vài trăm triệu USD, mà NHNN phải nâng giá mua lên rất nhiều để mua được thì chưa chắc đã đáng. Ngược lại, nếu thị trường thực sự dư USD với quy mô lớn, tỷ giá có thể tự giảm xuống vùng mà giá mua của NHNN trở nên cạnh tranh. Khi đó NHNN có thể mua được USD để tăng dự trữ mà không cần tạo ra một tín hiệu chính sách quá mạnh.
Chuyên gia ngân hàng Đào Hồng Châu





