Nguy cơ tăng thêm thủ tục hành chính
Góp ý dự thảo luật An toàn thực phẩm (ATTP) do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo đang triển khai lấy ý kiến, nhiều hiệp hội đồng loạt phản biện rằng mục tiêu quản lý ATTP hiện nay là số hóa dữ liệu để truy xuất nguồn gốc, quản lý theo rủi ro, tăng cường hậu kiểm, kiểm soát thương mại điện tử và phân loại các phương thức kiểm soát thực phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, một số quy định trong dự thảo lại làm tăng thủ tục tiền kiểm, tăng hồ sơ và chuyển nguồn lực từ hậu kiểm sang xử lý thủ tục.
Chẳng hạn cơ chế "tự công bố sản phẩm" hiện hành được thay bằng "công bố tiêu chuẩn sản phẩm". Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM (FFA) chỉ ra rằng theo hướng dẫn đang được xây dựng, doanh nghiệp (DN) phải nộp hồ sơ, chờ cơ quan nhà nước tiếp nhận, xem xét trong thời gian dự kiến 15 ngày và có thể phải bổ sung hồ sơ. Như vậy, dù được gọi là "công bố", cơ chế này có nguy cơ trở thành một dạng đăng ký giản lược, tức sản phẩm không thể lưu thông ngay như cơ chế tự công bố hiện hành.

Doanh nghiệp lo lắng quy định trong dự thảo luật ATTP sẽ gây thêm chi phí và thủ tục kéo dài
ẢNH: QUANG THUẦN
Đại diện Hiệp hội Sữa VN (VDA) cũng đồng quan điểm bởi theo cơ chế hiện hành, DN tự công bố, tự chịu trách nhiệm, sản phẩm được lưu hành ngay và nhà nước tập trung hậu kiểm. Vì thế, đại diện Công ty sữa Vinamilk đề nghị tiếp tục kế thừa nguyên tắc của cơ chế tự công bố hiện hành, chuyển trọng tâm sang quản lý dựa trên khoa học, mức độ rủi ro, dữ liệu và lịch sử tuân thủ. Hầu hết các DN đều đặt vấn đề: Nếu cơ quan quản lý nhà nước đã xác định hậu kiểm là phương thức quản lý chủ đạo, tại sao lại tạo thêm một cánh cửa để nhà nước phải kiểm tra hồ sơ trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường? Đây thực chất là bước làm tăng thêm quy trình thủ tục và gây tốn kém thời gian, chi phí cho DN.
FFA nhận định việc buộc những sản phẩm đã được đăng ký hoặc tự công bố hợp pháp phải thực hiện lại thủ tục sẽ tạo ra khối lượng hồ sơ rất lớn, gây áp lực cho cả DN và cơ quan quản lý. VDA dẫn dữ liệu giai đoạn 2018 - 2022 cho thấy đã có 335.270 hồ sơ tự công bố và 53.910 hồ sơ đăng ký bản công bố tại 50/63 tỉnh, thành phố. Từ đó ước tính đến năm 2026 có khoảng 397.000 - 550.000 hồ sơ đang hoạt động có thể phải thực hiện lại hoặc chuyển đổi. Khối lượng chuyển đổi có thể lên tới hơn 3,6 triệu giờ làm việc của DN và khoảng 507.000 giờ xử lý của cơ quan nhà nước. Điều đáng lo hơn, theo VDA, là nguồn lực vốn cần dành cho hậu kiểm và các sản phẩm rủi ro cao có thể bị hút sang việc xử lý lại những hồ sơ của sản phẩm đang lưu hành hợp pháp. FFA cũng ước tính việc chuyển đổi có thể làm khối lượng thủ tục tăng 2,7 - 4 lần, trung bình khoảng 3,35 lần.
Bà Chu Thị Vân Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát VN (VBA), kiến nghị: "Quản lý thực phẩm cần dựa trên mức độ rủi ro, thay vì áp dụng cùng một yêu cầu cho tất cả sản phẩm. Những sản phẩm có nguy cơ thấp nên có cơ chế đơn giản hơn; sản phẩm có nguy cơ cao mới cần kiểm soát chặt. Đặc biệt, việc đánh giá nguy cơ phải dựa trên cơ sở khoa học, không nên mở rộng phạm vi kiểm soát một cách máy móc".
Vì sao chỉ có 2 nhóm nguy cơ cao và thấp?
Theo nội dung dự thảo, việc phân loại nguy cơ (là căn cứ để chia thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, hương liệu thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, dụng cụ, vật liệu, bao bì tiếp xúc trực tiếp thực phẩm) chỉ được chia thành 2 nhóm là nguy cơ cao và nguy cơ thấp. Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch FFA, nhận xét cách phân loại này chưa phản ánh đầy đủ phương pháp quản lý rủi ro, đồng thời đề nghị xem xét hệ thống 3 mức: cao, trung bình và thấp, phù hợp hơn với cách tiếp cận quản lý rủi ro và phân loại trong pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Bà Lý Kim Chi nói: "Dự thảo chỉ phân thực phẩm thành 2 nhóm nguy cơ cao và thấp, chưa thống nhất với nguyên tắc phân loại 3 mức rủi ro cao, trung bình, thấp của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Trong khi đó, tiêu chí dựa vào dạng bào chế, đối tượng sử dụng và công dụng; một số tiêu chí có phạm vi quá rộng, có thể khiến nhiều thực phẩm thông thường cũng phải đăng ký bản công bố, nhưng chưa xem xét đầy đủ mức độ ảnh hưởng đối với chi phí tuân thủ, cũng như lợi ích thu được".
Đồng tình với ý kiến trên, Vinamilk đề nghị sử dụng 3 mức rủi ro thấp, trung bình, cao, thay vì cách phân chia 2 nhóm. Đại diện VDA cũng đặt trọng tâm vào nguyên tắc tương tự: nhóm rủi ro cao cần được kiểm soát chặt, trong khi nhóm rủi ro thấp và DN có lịch sử tuân thủ tốt cần được giảm thủ tục.
Theo các chuyên gia thực phẩm, trên thế giới hiện nay thường phân loại quản lý thành 3 mức: Rủi ro cao thì tiền kiểm, đăng ký, kiểm tra chặt, hậu kiểm thường xuyên. Rủi ro trung bình thì kiểm soát ở mức phù hợp, kết hợp hồ sơ và hậu kiểm. Những DN hay sản phẩm thuộc dạng rủi ro thấp thì tự công bố, quản lý dữ liệu và hậu kiểm theo xác suất/rủi ro. Nếu tất cả đều bị quản lý gần như nhau, thì đó không còn là quản lý dựa trên rủi ro mà là quản lý bình quân. Nhà nước đang khuyến khích và công nhận những hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến, vì vậy trong quy định quản lý cần phải tích hợp, thừa nhận những chứng nhận này.
"Những cơ sở, đơn vị đã áp dụng GHP, HACCP, ISO 22000 hoặc hệ thống tương đương cần được xem xét miễn giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, bởi các hệ thống này đã chứa đựng những yêu cầu quản lý cao hơn hoặc tương đương về ATTP", VDA kiến nghị và đề xuất chỉ kiểm tra hồ sơ và không lấy mẫu trong những trường hợp phù hợp.
Trả lời PV Thanh Niên, một chuyên gia trong ngành thực phẩm nhấn mạnh quản lý ATTP phải chuyển từ "kiểm soát thật nhiều" sang kiểm soát đúng nơi, đúng lúc và đúng mức độ rủi ro. Muốn làm được điều đó, luật cần bảo đảm ít nhất 5 việc: Giữ cơ chế tự công bố đối với nhóm rủi ro thấp thay vì biến nó thành một dạng tiền kiểm. Không bắt sản phẩm đang lưu hành hợp pháp phải làm lại hồ sơ hàng loạt nếu không có thay đổi trọng yếu hoặc căn cứ rủi ro. Phân loại rủi ro thành các mức phù hợp, từ đó thiết kế biện pháp quản lý tương ứng. Thưởng cho lịch sử tuân thủ tốt và hệ thống quản lý tiên tiến bằng thủ tục, tần suất kiểm tra và yêu cầu hồ sơ thấp hơn. Dồn nguồn lực nhà nước vào hậu kiểm, sản phẩm rủi ro cao và xử lý vi phạm thay vì tiêu hao nguồn lực vào việc xử lý lại những hồ sơ vốn đã hợp pháp. Tuy nhiên, ở dự thảo lần này, hầu hết DN đều chưa thấy được mục tiêu đó.
Nếu một DN đã đầu tư rất lớn vào hệ thống quản lý ATTP được quốc tế công nhận nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ những thủ tục giống một cơ sở có mức độ kiểm soát thấp hơn, thì hệ thống chứng nhận đó mất đi một phần ý nghĩa khuyến khích tuân thủ. Quản lý hiện đại không chỉ là "phạt DN vi phạm", mà còn phải tạo ra động lực kinh tế cho DN tuân thủ tốt.
Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM




