Bỗng dưng mất nhà?
Theo trình bày của ông T. (ngụ TPHCM), ông và vợ cũ bất ngờ rơi vào cảnh tranh chấp khi căn nhà đang đứng tên mình bị sang tên cho người khác.
Cụ thể, ông và vợ là bà K. đồng sở hữu nhà đất diện tích 330m2 tại TPHCM. Căn nhà này được vợ chồng ông mua lại từ năm 2000 bằng hợp đồng nhận chuyển nhượng, có xác nhận của chính quyền địa phương.
Năm 2006, vợ chồng ông ly hôn nhưng vẫn đồng sở hữu căn nhà trên. Đến năm 2011, ông T. và vợ cũ ký hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng căn nhà và đất cho bà D. (em gái của ông T.) với mục đích quản lý.
Giai đoạn 2013-2014, vợ chồng ông T. dùng nhà đất trên để thế chấp làm tài sản đảm bảo cho khoản vay tại một ngân hàng. Năm 2020, ông T. và vợ cũ cho người khác thuê căn nhà này với giá 20 triệu đồng/tháng, thời hạn thuê 10 năm.
Theo ông T., đến năm 2023, bà D. đã dùng giấy ủy quyền để tặng nhà đất cho ông R. (con trai). Việc này được thực hiện mà không thông qua ý kiến của ông và vợ cũ. Việc xóa đăng ký thế chấp, ký hợp đồng tặng cho và đăng ký sang tên được bà D. thực hiện trong vòng chưa đầy hai tuần.

Cho rằng bỗng dưng bị mất nhà, ông T. khởi kiện, yêu cầu tòa án tuyên hủy hợp đồng tặng cho và hủy việc sang tên. Đồng thời, ông này yêu cầu bà D. bồi thường thiệt hại gần 12 tỷ đồng, tương đương một nửa giá trị nhà đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà D. và con trai cho rằng thực chất nhà đất trên thuộc sở hữu của vợ chồng bà D. Do hai người định cư ở nước ngoài, năm 2000 đã nhờ vợ chồng ông T. đứng tên giúp.
Đến năm 2022, sau khi về nước, vợ chồng bà D. đề nghị ông T. và vợ cũ trả lại căn nhà. Bà D. cho biết bà là người đã ứng tiền để tất toán khoản vay tại ngân hàng và giải chấp giấy chứng nhận nhà đất. Sau đó, căn cứ hợp đồng ủy quyền năm 2011, bà đã làm thủ tục tặng cho căn nhà cho con trai.
Ông R., con trai bà D., không đồng ý với nội dung khởi kiện. Ông này có đơn phản tố, yêu cầu tòa công nhận ông là người sở hữu hợp pháp nhà đất. Nếu được trả lại nhà đất, ông R. cho biết sẽ hỗ trợ cho ông T. và vợ cũ 5 tỷ đồng.
Ai là chủ sở hữu thực sự của căn nhà?
Với vai trò người làm chứng, người chủ cũ của căn nhà xác nhận số tiền mua nhà là của vợ chồng bà D. gửi từ nước ngoài về. Quá trình thương lượng giá bán đều do bà D. điện thoại trực tiếp trao đổi, ông T. chỉ là người đại diện thanh toán tiền và đứng tên trên giấy tờ mua bán.
Tại bản án sơ thẩm ngày 20/9/2024, TAND TPHCM không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. về việc hủy hợp đồng ủy quyền; không hủy hợp đồng tặng cho nhà đất giữa bà D. và con trai; buộc ông T. và vợ cũ trả lại nhà đất cho con trai bà D.
Đồng thời, tòa sơ thẩm công nhận quyền sở hữu nhà đất cho con trai bà D.; ghi nhận sự tự nguyện của mẹ con bà D. trong việc sẽ hỗ trợ 5 tỷ đồng khi ông T. và vợ cũ trả lại nhà.
Không đồng ý với phán quyết trên, ông T. và vợ cũ kháng cáo. Tại phiên xử phúc thẩm, TAND cấp cao tại TPHCM nhận định mặc dù nhà đất tranh chấp đứng tên ông T. và vợ cũ từ năm 2000, nhưng thực tế tiền mua nhà là của vợ chồng bà D.; ông T. và vợ cũ chỉ đứng tên thay.
Việc ký hợp đồng ủy quyền năm 2011 cho bà D. quản lý, định đoạt nhà đất là đúng pháp luật, tự nguyện và có hiệu lực. Hợp đồng tặng cho toàn bộ nhà đất được lập giữa bà D. và con trai trong phạm vi được ủy quyền, đã được công chứng và không vi phạm pháp luật.
TAND cấp cao tại TPHCM cho rằng hợp đồng tặng cho nhà đất giữa mẹ con bà D. là hợp pháp, đủ cơ sở pháp lý, do đó bác kháng cáo của ông T. và vợ cũ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.












