Thứ nhất, chuyển từ chia nhóm sản phẩm hàng hoá (sản phẩm) một cách khá hành chính (nhóm 1, nhóm 2) sang phân loại sản phẩm theo ba mức độ rủi ro để quản lý khác nhau, theo hướng là ít tiền kiểm và tăng cường giám sát, hậu kiểm (chuyển thứ tự ưu tiên quản lý từ tiền kiểm-hậu kiểm-giám sát sang giám sát-hậu kiểm-tiền kiểm. Với sản phẩm rủi ro cao thì phải công bố hợp quy với sự đánh giá của bên thứ ba (tức là có tiền kiểm, đa số các quốc gia đều làm vậy với khoảng 5-10% số sản phẩm có quy chuẩn, còn so với tất cả sản phẩm thì chỉ còn rất ít, chiếm 1-2%), sản phẩm rủi ro trung bình thì doanh nghiệp tự công bố hợp quy và chịu trách nhiệm, với sản phẩm rủi ro thấp thì doanh nghiệp công bố tính năng, tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng nếu có. Dù có tiền kiểm hay hậu kiểm thì giám sát, hậu kiểm thường xuyên vẫn là biện pháp căn cơ, lâu dài. Tần suất hậu kiểm sẽ phụ thuộc vào mức độ rủi ro của sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp, doanh nghiệp có uy tín, ít vi phạm thì tần suất hậu kiểm thấp.
Chứng nhận sự phù hợp của bên thứ ba phục vụ công bố hợp quy thì làm một lần, dùng chung cho các thủ tục hành chính nếu có (không trùng lặp thủ tục giữa đăng ký lưu hành và chứng nhận hợp quy, cũng như các luật chuyên ngành phải tuân theo các nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá), và chỉ phải làm lại khi có sự thay đổi đầu vào, quy trình, dây chuyền sản xuất.













