Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư 61/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 (Thông tư 61) quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại, trong đó đặt ra các điều kiện và giới hạn cụ thể đối với việc thành lập chi nhánh, phòng giao dịch.
Theo Thông tư 61, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của mỗi ngân hàng thương mại được xác định theo công thức do NHNN quy định.
Cụ thể, mỗi ngân hàng thương mại được thành lập tối đa 10 chi nhánh tại khu vực nội thành Hà Nội hoặc TPHCM.
Đối với ngân hàng có thời gian hoạt động dưới 12 tháng, trong một năm tài chính được thành lập không quá 3 chi nhánh. Các chi nhánh này không được đặt trên cùng địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Các ngân hàng có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên được thành lập không quá 5 chi nhánh trong một năm tài chính, trong đó số chi nhánh tại khu vực nông thôn phải chiếm ít nhất 50% tổng số chi nhánh được thành lập.

Về mạng lưới phòng giao dịch, Thông tư 61 quy định số lượng phòng giao dịch của ngân hàng tại khu vực nội thành Hà Nội, TPHCM không lớn hơn 2 lần số lượng chi nhánh hiện có của ngân hàng tại mỗi khu vực này và không quá 20 phòng giao dịch.
Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, số lượng phòng giao dịch của ngân hàng thương mại không lớn hơn 3 lần số lượng chi nhánh hiện có của ngân hàng trên địa bàn đó.
Trong một năm tài chính, mỗi ngân hàng được thành lập tối đa 10 phòng giao dịch và số lượng phòng giao dịch tại vùng nông thôn chiếm ít nhất 50% tổng số phòng giao dịch được thành lập.
Số lượng phòng giao dịch được quản lý bởi một chi nhánh do ngân hàng thương mại tự quyết, phù hợp với năng lực quản lý của mỗi chi nhánh.
|
Để được thành lập chi nhánh ở trong nước, ngân hàng thương mại phải đáp ứng các điều kiện sau: Đối với ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên, hoạt động kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo riêng lẻ được kiểm toán của năm trước liền kề năm đề nghị; tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động theo quy định của pháp luật trong thời gian 12 tháng liền trước tháng đề nghị. Có tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm 31/12 của năm liền trước và tại ngày cuối cùng của tháng liền trước không vượt quá 3% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ. Có số lượng và cơ cấu Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban Kiểm soát; có bộ phận kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng, đồng thời không bị khuyết tổng giám đốc. Không bị xử phạt vi phạm hành chính về tổ chức, quản trị, điều hành, cấp tín dụng trong thời gian 12 tháng liền trước tháng đề nghị. |
















