Doanh nghiệp

Một dự án năng lượng có thể phải đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật

Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số và sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao như AI, trung tâm dữ liệu…, đến năm 2030, nhu cầu năng lượng tại Việt Nam sẽ tăng mạnh. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt với nhiều thách thức, khi nguồn cung truyền thống suy giảm, dự án chậm tiến độ, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và thiếu hụt cơ chế tài chính cho các dự án quy mô lớn…

4 điểm nghẽn cản trở phát triển năng lượng

Tại Diễn đàn Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”, do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức ngày 11/8 và có sự đồng hành của Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam nêu thực trạng ngành năng lượng Việt Nam quy mô ngày càng lớn kéo theo áp lực phát triển nhanh.

Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”

Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”

Trong đó, có tới 4 điểm nghẽn chính sách đang cản trở phát triển ngành năng lượng. Trước hết là hệ thống chính sách chưa đồng bộ, khi 1 dự án năng lượng hiện nay có thể phải đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật: Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên biển và nhiều Nghị định hướng dẫn khác.

Điểm nghẽn thứ hai là thị trường năng lượng phát triển chưa đẩy đủ, thị trường điện cạnh tranh mới chỉ ở mức độ nhất định. Giá điện chưa phản ánh đầy đủ tín hiệu thị trường, điểu chỉnh giá chậm. Cơ chế bao tiêu sản lượng và hợp đồng mua bán điện chưa hoàn thiện. Trong khi đó, thị trường khí và LNG gần nhu chưa hình thành và thiếu khung pháp lý minh bạch, cơ chế bảo đảm huy động công suẩt và hợp đồng dài hạn, gây khó khăn cho thu hút đầu tư vào hạ tầng LNG.

Điểm nghẽn thứ ba là phát triển nguồn điện chưa đồng bộ với hạ tầng truyền tải. Quy hoạch điện VIll điều chỉnh đã đặt mục tiêu phát triển mạnh hệ thống truyến tải, lưu trữ và lưới điện thông minh song cơ chế huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư lưới điện vẫn còn hạn chế.

Điểm nghẽn thứ tư theo TS. Nguyễn Hùng Dũng là thiếu chính sách cho các ngành năng lượng mới. Trong khi nhiều quốc gia đã ban hành chiến lược quốc gia về Hydrogen, CCUS, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), lưu trữ năng lượng hay tín chỉ carbon nhưng ở Việt Nam, nhiều lĩnh vực vẫn chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi đầu tư, cơ chế định giá hay thị trường tiêu thụ.

“Điều này khiến DN khó mạnh dạn đầu tư, còn các tổ chức tài chính cũng chưa có cơ sở để đánh giá hiệu quả của dự án. Bên cạnh đó, trong bối cảnh địa chính trị quốc tế diễn biến phức tạp, an ninh năng lượng không chỉ phụ thuộc vào sản lượng trong nước, còn gắn với khả năng ứng phó với các cú sốc bên ngoài. Vì vậy, Việt Nam cần sớm hoàn thiện cơ chế dự trữ năng lượng chiến lược, đa dạng hóa nguồn cung và xây dựng thị trường năng lượng có khả năng chống chịu cao trước biến động toàn cầu”, TS. Nguyễn Hùng Dũng phân tích.

Rà soát hoàn thiện chính sách là nhiệm vụ cấp bách

Để ngành năng lượng thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, theo TS. Nguyễn Hùng Dũng cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Đó là hoàn thiên thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo cao. Cần rà soát toàn bộ các quy định liên quan đến đầu tư năng lượng, bảo đảm thống nhất giữa Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai và các luật chuyên ngành; đồng thời đơn giản hóa thủ tục đầu tư, rút ngăn thời gian chuẩn bị dự án.

Cần xây dựng đầy đủ thị trường năng lượng cạnh tranh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Sớm hoàn thiện cơ chế giá điện, thị trường khí và LNG, hợp đồng mua bán điện dài hạn, cơ chế chia sẻ rủi ro, tín chỉ carbon và các công cụ tài chính xanh để thu hút nguồn vốn tư nhân và quốc tế.

Ngoài ra, cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp năng lượng. Không chỉ đầu tư nguồn điện còn cần đầu tư đồng thời hạ tầng truyền tải, hệ thống lưu trữ, chuỗi cung ứng thiết bị, công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao. “Đặc biệt, cần có chính sách khuyến khích DN trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của điện gió ngoài khơi, LNG, Hydrogen và các ngành năng lượng mới, qua đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”, TS. Nguyễn Hùng Dũng đề xuất.

Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy

Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy

Tại diễn đàn, ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, việc hoàn thiện chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành năng lượng không chỉ nhằm giải quyết những yêu cầu trước mắt, còn là sự chuẩn bị cho một chu kỳ phát triển mới của nền kinh tế; cho tăng trưởng nhanh, xanh và thịnh vượng của đất nước.

“Việt Nam đã xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong những năm tới, đồng thời tiếp tục thực hiện cam kết phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi xanh. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, năng lượng phải đi trước một bước. Không có hệ thống năng lượng an toàn, ổn định, đa dạng và đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, sẽ rất khó tạo dựng nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững”, ông Bính nói.

Các ý kiến tại diễn đàn cùng thống nhất cho rằng, việc rà soát và hoàn thiện chính sách, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế là nhiệm vụ cấp bách. Xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao chính là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy ngành năng lượng Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững trong tương lai.

Các tin khác

EVN sản xuất hơn 32 tỷ kWh điện trong tháng 7

EVN sản xuất hơn 32 tỷ kWh điện trong tháng 7

EVN đảm bảo cung ứng điện và khắc phục ảnh hưởng thiên tai, hiện đơn vị tiếp tục đẩy nhanh các dự án nguồn, lưới điện và chuẩn bị phương án cung ứng cho tháng 8.
Vietjet tăng 82.000 chỗ, sẵn sàng phục vụ cao điểm Quốc khánh 2.9

Vietjet tăng 82.000 chỗ, sẵn sàng phục vụ cao điểm Quốc khánh 2.9

Chào đón kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2.9, Vietjet dự kiến bổ sung 82.000 chỗ, tương đương 400 chuyến bay trên các đường bay trong nước và quốc tế. Ước tính trong thời gian từ 26.8 đến 5.9.2026, Vietjet sẽ cung cấp hơn 4.400 chuyến bay đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch, thăm thân của người dân và du khách trong kỳ nghỉ.
Tháng 7 nóng thứ 2 lịch sử

Tháng 7 nóng thứ 2 lịch sử

Khi nhiệt độ không khí trung bình tại bề mặt cao hơn 1,47°C so với mức cơ sở ước tính thời kỳ tiền công nghiệp. Đáng chú ý, nhiệt độ bề mặt nước biển toàn cầu đã đạt mức cao nhất lịch sử do sự xuất hiện của El Nino cường độ mạnh.
Báo Thái Lan nói gì về việc Việt Nam vượt Thái Lan thành thị trường hàng không lớn thứ hai Đông Nam Á

Báo Thái Lan nói gì về việc Việt Nam vượt Thái Lan thành thị trường hàng không lớn thứ hai Đông Nam Á

Theo báo cáo của OAG, Việt Nam đang đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á về năng lực vận tải hàng không, với mức tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 7,27 triệu chỗ ngồi. Đây là tháng thứ hai liên tiếp Việt Nam duy trì vị trí thứ hai trong khu vực, sau khi vượt qua Thái Lan lần đầu vào tháng 7.
Xây tuyến đường sắt nhẹ trên đảo Phú Quốc là một nỗ lực phi thường

Xây tuyến đường sắt nhẹ trên đảo Phú Quốc là một nỗ lực phi thường

Đó là chia sẻ của ông Trần Anh Tuấn - Phó tổng giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) - đại diện liên danh nhà thầu thi công ngay trên công trường về "bài toán" tiến độ và những kỷ lục đang được thiết lập tại dự án tuyến tàu điện nhẹ (light rail) đầu tiên tại Việt Nam.
Digiworld mở rộng sang dầu nhờn, bắt tay Shell xây hệ thống phân phối B2B và B2C

Digiworld mở rộng sang dầu nhờn, bắt tay Shell xây hệ thống phân phối B2B và B2C

Hợp tác chiến lược với Shell đưa Digiworld bước vào thị trường dầu nhờn có quy mô hàng trăm triệu lít mỗi năm tại Việt Nam. Với hai kênh phân phối B2C và B2B, ngành hàng mới cũng đặt ra yêu cầu khác biệt so với các lĩnh vực công nghệ, gia dụng hay hàng tiêu dùng mà doanh nghiệp đã phát triển trước đó.