Từ cho thuê đến cho ở nhờ
Theo trình bày của bà H. (ngụ TP Hải Phòng), khi còn sống, bố mẹ bà đã tạo lập bốn căn nhà tại phường Lê Chân, TP Hải Phòng với tổng diện tích gần 350m2.
Năm 1954, bố mẹ bà cho bà M. và hai người con trai là ông T. và ông Th. thuê một trong bốn căn nhà để ở. Đây là căn nhà cấp 4, được xây dựng trên diện tích đất gần 50m2.
Việc thuê nhà được hai bên thỏa thuận bằng miệng. Sau khi bố mẹ bà lần lượt qua đời vào các năm 1957 và 1981, gia đình bà M. vẫn tiếp tục ở trong căn nhà này nhưng không còn trả tiền thuê.
Năm 1996, bà M. qua đời. Do ông Th. lập gia đình và chuyển đi nơi khác sinh sống, trong nhà chỉ còn ông T. tiếp tục ở lại căn nhà trên.
Đến năm 2003, do căn nhà xuống cấp trầm trọng nên chính quyền địa phương vận động quyên góp để xây mới theo chương trình xóa nhà tranh vách đất. Theo biên bản thỏa thuận được lập, sau khi ông T. qua đời, căn nhà sẽ được trả lại cho các anh chị em của bà H.

Năm 2017, ông T. qua đời. Sau đó, ông Th. đến thắp hương cho anh trai và quản lý căn nhà, đồng thời khóa cổng khu đất. Bà H. nhiều lần yêu cầu ông Th. trả lại nhà theo cam kết của anh trai ông khi còn sống nhưng ông này không đồng ý. Do đó, bà H. khởi kiện đòi lại nhà.
Về phía bị đơn, ông Th. cho rằng gia đình mình đã sinh sống tại căn nhà từ năm 1952 đến nay, sử dụng ổn định, lâu dài và không có tranh chấp trong nhiều năm.
Theo ông Th., không có chứng cứ chứng minh việc gia đình ông chỉ ở nhờ hoặc thuê nhà của bố mẹ bà H. Vì vậy, ông đề nghị tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà H.
Sau khi xem xét hồ sơ, chứng cứ và lời khai của các bên, TAND quận Lê Chân (nay là TAND khu vực 5 - Hải Phòng) xác định căn nhà đang tranh chấp có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bà H.
Từ đó, tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H., buộc ông Th. phải trả lại căn nhà cấp 4 cùng quyền sử dụng diện tích gần 50m2 cho các đồng thừa kế của bố mẹ bà H. theo quy định của pháp luật.
Bên ở nhờ phải trả lại nhà
Không đồng ý với phán quyết trên, ông Th. kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND TP Hải Phòng nhận định lời trình bày của bà H. phù hợp với lời khai trước đây của ông T. khi còn sống, thể hiện trong các biên bản làm việc với chính quyền địa phương.
Đồng thời, nội dung trình bày của bà H. cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu địa chính, bằng khoán và trích lục thửa đất từ năm 1948 và 1952 cho thấy diện tích đất gần 50m2 là một phần trong khu đất thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bà H.
Kết quả xác minh của chính quyền địa phương cũng khẳng định thửa đất này vẫn nằm trong phần diện tích đất đứng tên hai cụ từ trước đến nay, không có tài liệu hay chứng cứ nào cho thấy đã được chuyển nhượng hoặc tặng cho người khác.
Trong khi đó, ông Th. cho rằng nhà và đất thuộc quyền sở hữu của mẹ mình nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc được Nhà nước giao đất hoặc được chủ sở hữu chuyển nhượng hợp pháp.
Tòa án cho rằng việc gia đình ông Th. sinh sống trên thửa đất từ năm 1954 chỉ là hình thức ở nhờ. Dù diễn ra trong thời gian dài nhưng điều này không làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản.
Ngoài ra, trong các biên bản làm việc năm 2003 và 2012 có xác nhận của chính quyền địa phương, chính ông T. cũng thừa nhận nhà đất thuộc sở hữu của bố mẹ bà H. và cam kết sau khi qua đời sẽ trả lại cho chủ sở hữu.
Từ những căn cứ trên, TAND TP Hải Phòng xác định bản án sơ thẩm là có cơ sở và đúng quy định pháp luật. Do đó, tòa phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông Th., giữ nguyên bản án sơ thẩm.












