
Lĩnh vực vận tải đang chịu nhiều áp lực trước biến động giá xăng dầu. Trong ảnh: các tài xế xe khách đổ xăng tại cây xăng trên đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc, TP.HCM - Ảnh: T.T.D.
Những tác động của đứt gãy nguồn cung năng lượng trên thế giới và tăng giá xăng dầu có thể tạo ra nhiều khó khăn cho đời sống của người dân, doanh nghiệp. Vì vậy cần sớm thiết kế một gói chính sách hỗ trợ tổng thể để ứng phó tốt hơn trước những biến động và tránh nguy cơ đình trệ, lạm phát.
TS NGUYỄN TÚ ANH - Giám đốc nghiên cứu chính sách vĩ mô, Trung tâm Green-X, Đại học VinUni - đã đưa ra khuyến nghị như vậy khi trao đổi cùng Tuổi Trẻ.
Ông cho rằng những tác động của tình hình chiến sự tại Trung Đông và diễn biến giá dầu đang tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống và kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Chúng ta không lường trước được diễn biến tiếp theo của cuộc chiến này. Nếu khả năng cuộc chiến có thể kéo dài cần tính tới việc giãn, hoãn những dự án chưa thực sự cấp bách để tập trung nguồn lực cho việc cầm cự, ứng phó với tình hình biến động khó lường của giá năng lượng. Tuy nhiên đối với những dự án có tác động lớn, đang được triển khai dang dở thì cần tập trung nguồn lực để nhanh chóng đưa dự án vào hoạt động, góp phần tăng năng lực chống chịu của nền kinh tế.
TS NGUYỄN TÚ ANH
Chuẩn bị cho kịch bản chiến sự kéo dài
* Những biến động mà ông nhắc tới cụ thể thế nào và ảnh hưởng ra sao, thưa ông?
- Những tác động và sức ép phụ thuộc rất nhiều vào chuyện chiến sự ở Trung Đông sẽ kết thúc sớm hay muộn. Nếu chiến sự kết thúc sớm trong một vài tuần tới thì những ảnh hưởng này chỉ mang tính chất tạm thời, khi eo biển Hormuz được giải tỏa và con đường vận chuyển huyết mạch của quốc tế đi qua Biển Đỏ sẽ không bị đe dọa.
Khi đó, nguồn cung năng lượng sẽ được cung ứng trở lại và câu chuyện tăng giá xăng dầu những ngày qua sẽ được giải quyết sớm.
Đó là kịch bản được mong chờ và tốt đẹp nhất. Giá dầu WTI kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng hiện nay cũng đang neo ở mức khoảng 80 - 85 USD/thùng, cho thấy thị trường đang nghiêng về kịch bản này hơn.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải chuẩn bị cho những tình huống xấu hơn vì không biết khi nào chiến sự kết thúc. Rủi ro lớn nhất mà các nước đều phải đối diện đó là rủi ro đình lạm - tức là vừa lạm phát, vừa suy thoái kinh tế.
Đây không phải là điều mới mẻ khi cuộc khủng hoảng giá dầu những năm 1980 - 1985 đã gây ra cuộc đình lạm rất lớn ở khu vực và các nước phương Tây. Lạm phát do giá năng lượng tăng vọt, suy thoái do chi phí sản xuất tăng cao.
Từ đó, chu kỳ suy thoái kích hoạt: người dân có xu hướng tìm kiếm các kênh trú ẩn an toàn như vàng, ngoại tệ, bất động sản. Điều này làm giá tài sản tăng vọt, lạm phát lại tăng. Dòng vốn có thể đảo chiều ra ngoài càng tạo sức ép lên tỉ giá. Những yếu tố này làm cho chi phí đầu vào càng tăng cao, đẩy nền kinh tế vào suy thoái sâu hơn và lạm phát cao hơn.
Đặc trưng của thị trường bất động sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào vay nợ, trong bối cảnh đình lạm chi phí vay nợ tăng vọt khiến nguy cơ đổ vỡ bong bóng bất động sản tăng cao.
Thực tế này đặt ra những thách thức cho hệ thống ngân hàng khi phải chuẩn bị đối mặt với những thách thức rất lớn mà chúng ta cần đánh giá kỹ lưỡng, thận trọng để sớm có giải pháp ứng phó.

Xăng lên giá kéo theo giá cước vận tải lên theo, tuy nhiên Hãng xe Phương Trang không tăng giá vé. Trong ảnh: xe khách xuất bến từ bến xe Miền Tây (TP.HCM) vào chiều 10-3 - Ảnh: T.T.D.
3 giải pháp ứng phó trước mắt
* Vậy theo ông, những giải pháp cần lưu ý tập trung thời điểm này là gì?
- Thứ nhất, phải làm sao ưu tiên đảm bảo được nguồn cung xăng dầu, tức là đa dạng hóa nguồn cung. Nếu có hạn chế từ các nước Trung Đông thì phải tìm kiếm nguồn cung ở nơi khác bằng mọi cách.
Về vấn đề này chúng ta cũng đã có kinh nghiệm ứng phó, ví dụ như khi xảy ra dịch COVID-19, chiến dịch ngoại giao vắc xin đã giúp chúng ta vượt qua đại dịch một cách ngoạn mục. Vì vậy cần phải tìm đủ mọi cách cả về ngoại giao, kinh tế để làm sao đảm bảo nguồn xăng dầu, an ninh năng lượng cho nền kinh tế và nhu cầu của người dân.
Thứ hai, cần phải duy trì được tình trạng dự trữ ngoại tệ tương đối ổn định trong chính sách tiền tệ bởi chúng ta là nước phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ và nguyên liệu đầu vào nên không thể để tình trạng ngoại tệ bị "tháo nút" quá nhanh, gây ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của đất nước.
Do đó cần thực hiện một loạt các chính sách để khuyến khích xuất khẩu, ưu tiên hoạt động này để có tăng dự trữ ngoại tệ và đảm bảo việc nhập khẩu năng lượng khi giá tăng.
Thứ ba, chính sách tài khóa phải thực hiện cả hai mục tiêu là vừa giữ được tính ổn định, tính bền vững cũng như hỗ trợ cho cả nền kinh tế.
Có nghĩa là một mặt vừa phải đảm bảo nhu cầu chi khá lớn để thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh năng lượng, hỗ trợ cho những công ty xuất nhập khẩu về xăng dầu để tìm kiếm các nguồn cung nhập khẩu, vừa giữ ổn định cân đối tài khóa để tăng độ tin cậy của các cam kết giữ ổn định của Chính phủ, neo giữ kỳ vọng về khả năng phục hồi.
Với chính sách tài khóa, những biện pháp đầu tiên đã được Chính phủ thực hiện khá nhanh là miễn thuế nhập khẩu xăng dầu hay chi sử dụng quỹ bình ổn. Song nếu giá tiếp tục leo thang thì cần phải tính đến việc hỗ trợ giá bán lẻ từ nguồn ngân sách.
Việc hỗ trợ này có thể từ các khoản do Nhà nước hỗ trợ trực tiếp vào giá, tiếp tục giảm thuế, hoặc có thể do các công ty nhập khẩu thực hiện trên cơ sở nguồn vay do Nhà nước đảm bảo thông qua các khoản tái cấp vốn của ngân hàng, nhằm giữ ổn định hoặc không để giá bán lẻ tăng vọt quá lớn.
Kiểm soát lạm phát trong phạm vi cho phép
* Người dân lo lắng vì giá xăng dầu tăng sẽ khiến giá cả hàng hóa leo thang. Vậy theo ông, các chính sách trên hỗ trợ thế nào để kiểm soát lạm phát?
- Để kiểm soát được kỳ vọng lạm phát thì chính sách tiền tệ có vai trò rất lớn. Bởi khi giá xăng dầu tiếp tục leo thang, khan hiếm nguồn cung sẽ tạo ra kỳ vọng lạm phát với rủi ro tăng lên và giá cả hàng hóa tăng theo.
Vì vậy cần phải kiểm soát lạm phát trong phạm vi cho phép, không để lạm phát tăng phi mã, nhưng cũng không cố gắng kìm giữ lạm phát ở mức quá thấp. Cần phải có sự cân đối rất tinh tế, bám sát vào diễn biến thị trường của các nhà hoạch định chính sách.
Cũng cần lưu ý, cần có sự phối hợp hài hòa và hợp lý giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để hỗ trợ cho các ngành kinh tế ưu tiên. Ví dụ có thể tăng cường khuyến khích phát triển cho nền kinh tế chia sẻ để người dân tăng sử dụng phương tiện công cộng, hạn chế dùng xe cá nhân, giảm tiêu dùng xăng dầu, giảm các chi phí khác.
Khuyến khích đầu tư vào nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, chuyển dịch sử dụng xe điện nhiều hơn.
Đó là việc tạo ra chính sách tiền tệ cấu trúc. Tức là sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng chính sách tiền tệ vào những lĩnh vực ưu tiên. Chính sách tiền tệ cần khuyến khích để vừa tăng nguồn cung xăng dầu, vừa thúc đẩy tăng năng lượng tái tạo, nguồn năng lượng mới, giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch.
Nhà nước có thể cho vay bằng cách tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại và yêu cầu ngân hàng giải ngân vào đúng lĩnh vực ưu tiên.

Người dân đổ xăng tại một cửa hàng trên đường Trần Phú (Hà Đông, Hà Nội) - Ảnh: N.AN
Thiết kế ngay gói hỗ trợ
* Giá xăng dầu đã tăng rất mạnh chỉ trong thời gian ngắn, đặc biệt với mặt hàng dầu vốn là đầu vào cho sản xuất tăng tới 70 - 80%. Vậy theo ông đã đến lúc cần thiết kế một gói chính sách hỗ trợ?
- Tôi cho rằng cần thiết kế ngay gói hỗ trợ, chứ không phải chờ giá tiếp tục diễn biến khó lường. Diễn biến giá xăng dầu những ngày qua là một cú sốc rất là lớn, dù giá xăng thế giới chưa tăng như năm 2022, lên mức 114 - 120 USD/thùng, nhưng mức giá trong nước đã điều chỉnh rất cao do trong giai đoạn 2022 - 2025 tiền VND đã mất giá khá nhiều so với USD.
Tỉ giá tăng mạnh và giá dầu leo thang đã tạo ra tác động lớn cho nền kinh tế, đặc biệt khi giá dầu và giá xăng đã tăng xấp xỉ 70%, tạo sức ép rất lớn đến giá sản xuất và dịch vụ.
Chúng ta phải cân nhắc trước bài toán: hoặc là tăng giá theo giá thế giới, hoặc là giữ ổn định giá bán lẻ. Nếu giữ ổn định giá, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu có thể phải chấp nhận lỗ nhưng sẽ tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn cho nền kinh tế.
Để làm được, thì như tôi đã nói ở trên, về việc sử dụng chính sách tài khóa, tức là Nhà nước có thể đứng ra hỗ trợ thông qua các gói chính sách khẩn cấp để trợ giá ngay cho doanh nghiệp và người dân ứng phó với cú sốc giá này.
Chúng ta hoàn toàn có những công cụ để thực hiện việc này. Ví dụ như có thể trợ giá cho doanh nghiệp xăng dầu ở khâu bán lẻ. Nhà nước có thể đứng ra bảo lãnh hoặc trợ cấp cho doanh nghiệp được vay để hỗ trợ mức chênh lệch khi giá tăng.
Khoản vay này sẽ được bù đắp trở lại khi doanh nghiệp hoạt động bình thường và có lãi sau này. Đó là những công cụ mà Nhà nước hoàn toàn có thể làm.

Tài xế xe ôm công nghệ Hồ Hải cho biết giá xăng tăng nhưng giá cước trên ứng dụng không tăng. Ảnh chụp tại cây xăng ở phường Tân Phú (TP.HCM) vào chiều 11-3 - Ảnh: HỮU HẠNH
Cần tính đến kho dự trữ chiến lược
* Từ thực tiễn vừa qua, những bài học kinh nghiệm cần rút ra trong ứng phó với các cú sốc về năng lượng và khuyến nghị của ông là gì?
- Thực tiễn cho thấy đây là bài học rất lớn để có biện pháp cấp bách hơn cho sự ổn định lâu dài, bền vững của thị trường xăng dầu, đảm bảo an ninh năng lượng. Chúng ta đang tiếp cận vấn đề nhiều hơn dựa trên bình ổn về mặt tài chính, trong khi việc bình ổn về mặt vật lý còn hạn chế.
Tức là chúng ta đang nghĩ có tiền để mua xăng dầu từ bên ngoài, nhưng những rủi ro khi có thể có tiền nhưng chưa chắc đã mua được xăng dầu đã trở thành hiện thực. Vì vậy, chỉ có những quỹ bình ổn về mặt vật lý, tức là kho dự trữ chiến lược, mới có thể giải quyết được vấn đề.
Trong bối cảnh ưu tiên cho phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, tăng trưởng nhanh dựa trên chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo thì yêu cầu cốt yếu là phải đảm bảo an ninh năng lượng.
Chính phủ cũng đã cố gắng rất lớn trong đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, đa dạng các loại hình năng lượng như phát triển năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, với hạ tầng, kho chứa, các kho lưu trữ xăng dầu quy mô lớn, dự trữ chiến lược vẫn chưa được đầu tư một cách tương xứng.
Do đó, việc ưu tiên xây dựng kho xăng dầu chiến lược, có thể đảm bảo dự trữ tối thiểu khoảng 4 tháng tiêu dùng, có thể tạo nên dư địa để neo giữ được những kỳ vọng, kiểm soát được giá cả và nguồn cung trong bối cảnh bất ổn khó lường, thay vì giá xăng dầu tăng vọt phi mã chỉ trong thời gian ngắn như vậy.
Hiện nay, dự trữ thương mại về mặt lý thuyết là 20 ngày tiêu dùng và dự trữ bán lẻ là 5 ngày. Kho dự trữ quốc gia chỉ đảm bảo được khoảng 7 ngày sử dụng (số liệu năm 2022). Như vậy có thể nói dự trữ năng lượng chiến lược của chúng ta rất mỏng, khó có thể can thiệp khi có biến động lớn.
Để so sánh, Nhật Bản có kho dự trữ chiến lược lên đến 254 ngày tiêu dùng, Hàn Quốc khoảng 200 ngày, Thái Lan 90 ngày. Vì vậy, bài học kinh nghiệm lớn để tăng trưởng nhanh và bền vững thì đảm bảo an ninh năng lượng là yếu tố cốt lõi và cần tập trung đầu tư tốt hơn cho hạ tầng dự trữ chiến lược.
Cần chuyển tư duy sử dụng quỹ bình ổn giá về mặt tài chính sang bình ổn bằng kho dự trữ chiến lược và cung - cầu thị trường. Khi giá xăng dầu tăng lên, Nhà nước tăng bán ra từ kho dự trữ để kéo giá xăng dầu xuống. Khi giá về vùng thấp thì tăng mua vào kho dự trữ để đảm bảo an ninh năng lượng.
Giá xăng dầu điều chỉnh trên cơ chế nào?
Cơ chế điều hành xăng dầu được thực hiện theo quy định của nghị định 80 về kinh doanh xăng dầu với chu kỳ cố định là thứ Năm hằng tuần. Tuy nhiên, với nghị quyết 36 của Chính phủ đã đồng ý cho Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính điều chỉnh giá ngay nếu tăng từ 7%.
Hiện công thức tính giá cơ sở của nguồn nhập khẩu sẽ được neo theo giá thành phẩm trên thị trường Singapore (Platt Singapore). Cụ thể, giá xăng dầu thế giới do Bộ Công Thương xác định nguyên tắc tính bình quân theo số ngày tính giá giữa hai kỳ công bố giá cơ sở được giao dịch trên thị trường quốc tế.
Vì vậy, khi giá được điều chỉnh so với kỳ liền kề trước đó sẽ có những độ trễ nhất định. Ví dụ trong chu kỳ điều hành ngày 10-3 vừa qua, giá cơ sở sẽ được tính toán dựa trên mức giá bình quân từ ngày 7 đến 10-3.
Song do ngày 9-3 mới áp dụng giảm thuế nhập khẩu về 0%, cùng xu hướng giá giảm mạnh mới bắt đầu từ ngày 10-3 dao động quanh mức 85 USD/thùng nên trong cơ cấu giá vẫn bị tác động bởi mức giá xăng dầu tăng cao của những ngày trước đó, có thời điểm lên tới 118 USD/thùng.
Song song đó là các chi phí đưa xăng dầu từ nước ngoài về cảng Việt Nam được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền sản lượng nhập khẩu. Tại chu kỳ điều chỉnh trước ngày 10-3, chi phí này tăng vọt lên tới khoảng 35 USD/thùng với xăng và 45 - 50 USD/thùng với dầu, gấp khoảng 20 lần so với trước - theo phản ánh của các doanh nghiệp đầu mối.
Với nguồn trong nước, giá cũng được tính dựa trên biến động giá xăng dầu thế giới cộng chi phí vận chuyển. Ngoài ra, tổng hợp hai nguồn này sẽ thêm chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận định mức, các khoản chi phí thuế (nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, bảo vệ môi trường) và các khoản chi/trích lập quỹ bình ổn (nếu có).
Vì vậy, với công thức tính giá như trên cùng chu kỳ giảm giá xăng dầu trong hai ngày 10 và 11-3, giá xăng dầu trong nước đang có xu hướng hạ nhiệt.
Doanh nghiệp ngóng được tiếp sức
Nhiều doanh nghiệp, hiệp hội cho rằng đà tăng mạnh của giá xăng dầu trong thời gian ngắn đã trực tiếp ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì thế, họ mong muốn sớm có những đánh giá tác động tổng thể, toàn diện để có những chính sách hỗ trợ kịp thời và có biện pháp ứng phó lâu dài.

Du khách từ Trung Đông được doanh nghiệp nỗ lực đưa về Việt Nam an toàn - Ảnh: Q.N.
Bình ổn giá, hỗ trợ tiếp sức cho ngành bị tác động lớn
Chuyên tổ chức tour du lịch cho khách đi các thị trường như Nhật Bản, Trung Quốc, châu Âu và các tour nội địa, ông Nguyễn Văn Dũng - Giám đốc Công ty cổ phần du lịch Cổng châu Á (Asia Gate Travel) - cho hay khi các hãng bay đề xuất đưa thêm phụ thu nhiên liệu, điều chỉnh giá trần vé máy bay nội địa, mức điều chỉnh dự kiến tăng cao cho mỗi chặng bay sẽ ảnh hưởng rất lớn các chi phí của khách khiến cho những khách hàng mới băn khoăn lựa chọn dịch vụ.
"Vì vậy chúng tôi mong bình ổn được giá xăng dầu, có chính sách hỗ trợ cho ngành du lịch nếu chiến sự kéo dài", ông Dũng chia sẻ.
Ông Nguyễn Hồng Minh - Tổng thư ký Hiệp hội Vận tải Hà Nội, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH thương mại và du lịch Nguyên Minh - chia sẻ chưa bao giờ giá xăng dầu tăng nhanh với cường độ "lặp đi lặp lại" với tần suất liên tục như hiện nay.
Trong khi đó, chi phí xăng dầu chiếm tới 30 - 40% trong giá thành vận tải, đã có một số doanh nghiệp vận tải lên phương án ngừng kinh doanh do không thể cầm cự được vì càng chạy càng lỗ.
Vì vậy, ông Minh mong Chính phủ đưa ra một gói các biện pháp để kiềm chế giá như xả quỹ bình ổn giá, giảm các khoản thuế liên quan xăng dầu. Về lâu dài, ông Minh mong Chính phủ tiếp tục có rà soát đánh giá kỹ lưỡng hơn những tác động để có những chính sách hỗ trợ dài hơi, đặc biệt với nhóm đối tượng chịu tác động lớn nhất là doanh nghiệp vận tải.
"Chúng tôi mong muốn gói hỗ trợ sẽ như một liều thuốc kháng sinh cực mạnh, là phao cứu sinh cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn", ông Minh bày tỏ.
Phân loại nhóm doanh nghiệp để có các gói phù hợp
Theo ông Đỗ Văn Vẻ - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, các ngành xuất khẩu và sản xuất cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Đặc biệt cước phí vận chuyển hàng hóa, biến động tỉ giá tăng, giá vật tư nguyên liệu đều tăng theo, những rủi ro trong thực hiện các hợp đồng đã ký kết.
Nếu cuộc chiến kéo dài, nhiều hệ lụy phức tạp và khó lường có thể xảy ra nên cần phải có các kịch bản và giải pháp ứng phó chủ động kịp thời, tránh những nguy cơ lớn cho doanh nghiệp.
Theo đó, ông Vẻ cho rằng Chính phủ cần đánh giá kỹ lưỡng các tác động của cuộc chiến này với từng ngành nghề, doanh nghiệp để tổng hợp, phân loại những nhóm doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp ứng phó và gói hỗ trợ kịp thời.
Ví dụ như những trường hợp bị hủy đơn hàng, gặp sự cố trong vận chuyển do chiến tranh, mất khả năng thanh toán... có thể đưa ra gói hỗ trợ như tín dụng, lãi suất, giảm và giãn các loại thuế, phí, khoan và giãn nợ vốn vay, giảm lãi suất để doanh nghiệp sớm khắc phục thiệt hại và chủ động tìm kiếm các nguồn hợp đồng mới.
Ngoài ra, ông Vẻ cũng cho rằng Chính phủ cần có các chính sách quản lý vĩ mô về tài khóa, tiền tệ phù hợp, đàm phán với các nước được xem là thân thiện, có tiềm năng trong việc hỗ trợ Việt Nam cung ứng nguồn năng lượng dầu thô, xăng dầu, khí đốt.
Cần kiểm soát chặt chẽ cá nhân, tổ chức lợi dụng tình hình để tăng giá, lũng đoạn thị trường, đặc biệt là các vật tư đầu vào cho sản xuất và hàng tiêu dùng của nhân dân.
Tăng cường thông tin, nâng cao hiệu quả vận tải
Đồng tình thiết kế các gói hỗ trợ từng đối tượng, ông Mạc Quốc Anh - Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội - còn cho rằng ngoài các giải pháp "truyền thống" liên quan lãi vay, thuế phí..., cần tăng cường những thông tin kịp thời về xu hướng giá năng lượng và các chính sách điều hành doanh nghiệp để chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Cùng với đó, về dài hạn cần phải có giải pháp để giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả vận tải, khi chi phí này vẫn đang ở mức quá cao. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sử dụng năng lượng hiệu quả và bền vững hơn, tránh phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch.








