Dữ liệu từ báo cáo tài chính quý I/2026 phản ánh tốc độ tăng trưởng tín dụng đang ngày càng lệch pha so với huy động vốn.
Trong khi tổng dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng tăng khoảng 4% sau 3 tháng đầu năm, lên hơn 14,67 triệu tỷ đồng, tổng tiền gửi khách hàng chỉ tăng khoảng 0,6%, đạt gần 12,88 triệu tỷ đồng. Chênh lệch tăng trưởng giữa hai chỉ tiêu cho thấy nhu cầu vốn của nền kinh tế đang tăng nhanh hơn đáng kể khả năng huy động đầu vào của các nhà băng.
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động

Xu hướng "tín dụng chạy nhanh hơn huy động" xuất hiện ở hầu hết ngân hàng lớn.
Tại VPBank, tín dụng tăng tới 10% chỉ sau 3 tháng đầu năm, trong khi huy động tăng 8,7%. Điều này khiến quy mô dư nợ cho vay của ngân hàng lên hơn 1,04 triệu tỷ đồng, vượt huy động khách hàng khoảng 358.000 tỷ đồng, mức cao nhất hệ thống.
MB cũng ghi nhận diễn biến tương tự khi dư nợ tín dụng tăng 3% nhưng huy động lại giảm 1,7%. Tại cuối quý I, quy mô cho vay của MB đạt hơn 1,12 triệu tỷ đồng, cao hơn huy động khoảng 214.000 tỷ đồng.Techcombank là một trong những trường hợp phản ánh rõ sự lệch pha giữa hai chỉ tiêu. Trong khi tín dụng tăng 4%, tiền gửi khách hàng của ngân hàng lại giảm 3,1%.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, tốc độ tăng tín dụng cũng đang vượt huy động. Vietcombank ghi nhận tín dụng tăng 5%, cao hơn đáng kể mức tăng huy động chỉ 0,6%. BIDV thậm chí giảm 3,7% huy động nhưng tín dụng vẫn tăng 2%.
ACB, TPBank hay SeABank cũng trong trạng thái tương tự khi tín dụng tiếp tục đi lên dù huy động suy giảm trong quý đầu năm.
Trong khi đó, số ngân hàng duy trì được trạng thái huy động tăng nhanh hơn tín dụng không nhiều. HDBank là trường hợp đáng chú ý khi cả huy động và tín dụng cùng tăng khoảng 10%, giúp ngân hàng vẫn duy trì được trạng thái thanh khoản tương đối cân bằng.
| Ngân hàng | Huy động khách hàng 31/3/2026 (tỷ đồng) | Tăng/giảm huy động | Dư nợ cho vay 31/3/2026 (tỷ đồng) | Tăng trưởng tín dụng | Chênh lệch huy động - tín dụng (tỷ đồng) |
|---|---|---|---|---|---|
| BIDV | 2.140.961 | -3,7% | 2.429.610 | 2% | -288.649 |
| VietinBank | 1.824.177 | 1,7% | 2.028.495 | 2% | -204.318 |
| Vietcombank | 1.682.032 | 0,6% | 1.754.926 | 5% | -72.894 |
| MB | 905.918 | -1,7% | 1.120.563 | 3% | -214.645 |
| VPBank | 682.719 | 8,7% | 1.040.917 | 10% | -358.198 |
| HDBank | 621.549 | 10,8% | 601.140 | 10% | 20.409 |
| Sacombank | 600.789 | -2,8% | 626.960 | 0% | -26.171 |
| SHB | 600.195 | 4,9% | 628.157 | 2% | -27.962 |
| Techcombank | 599.808 | -3,1% | 796.864 | 4% | -197.056 |
| ACB | 569.110 | -2,7% | 709.026 | 3% | -139.916 |
| LPBank | 345.760 | 2,4% | 403.026 | 3% | -57.266 |
| VIB | 316.374 | 7,4% | 386.257 | 1% | -69.883 |
| TPBank | 267.038 | -4,3% | 316.042 | 3% | -49.004 |
| MSB | 193.896 | -1,4% | 214.696 | 5% | -20.800 |
| SeABank | 185.876 | -3,1% | 238.724 | 1% | -52.848 |
| Eximbank | 182.148 | 2,7% | 189.347 | 3% | -7.199 |
| Nam A Bank | 176.865 | -0,5% | 201.136 | 2% | -24.271 |
| OCB | 158.683 | 5,8% | 204.504 | 3% | -45.821 |
| ABBank | 146.668 | 9,9% | 117.329 | 3% | 29.339 |
| NCB | 134.919 | 5,9% | 116.876 | 20% | 18.043 |
| BacABank | 127.458 | 0,3% | 129.574 | 3% | -2.116 |
| VietABank | 102.351 | 3,3% | 90.753 | 2% | 11.598 |
| VietBank | 96.521 | -4,9% | 109.693 | 4% | -13.172 |
| BVBank | 74.033 | 3,7% | 79.226 | 2% | -5.193 |
| Kienlongbank | 73.137 | 1,6% | 73.235 | 2% | -98 |
| PGBank | 47.035 | -2,9% | 44.383 | -4% | 2.652 |
| Saigonbank | 25.349 | -3,7% | 22.106 | 1% | 3.243 |
Điểm nóng nguồn vốn
Những diễn biến trên báo cáo tài chính quý I/2026 cũng phần nào trùng khớp với đánh giá của SSI Research và nhận định từ lãnh đạo các ngân hàng về áp lực thanh khoản đang gia tăng trong hệ thống.
Trong báo cáo chiến lược mới công bố, SSI Research cho rằng nguồn vốn đã trở thành "điểm nóng" của ngành ngân hàng khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tại nhiều nhà băng đã tiến sát ngưỡng 100%. Theo nhóm phân tích, thanh khoản của hệ thống hiện ngày càng phụ thuộc vào các nguồn vốn thay thế như tiền gửi Kho bạc Nhà nước, kênh OMO, chứng chỉ tiền gửi hay vốn nước ngoài, thay vì tăng trưởng tiền gửi cốt lõi từ khách hàng.
SSI cho biết cạnh tranh huy động đã trở nên gay gắt hơn trong quý I/2026. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh ghi nhận tiền gửi suy giảm, nhiều ngân hàng tư nhân lại tăng lãi suất để hút vốn. Có thời điểm lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng được đẩy lên vùng 9-9,5%/năm, tăng khoảng 120-150 điểm cơ bản so với trước đó.

Nguồn: SSI
Nhận định này cũng tương đồng với chia sẻ của ông Phạm Như Ánh, Tổng Giám đốc MB, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 18/4.
Theo ông Ánh, nếu năm 2021 toàn hệ thống huy động 100 đồng thì cho vay khoảng 95 đồng, hiện nay con số này đã lên tới 112 đồng cho vay trên 100 đồng huy động.
"Thanh khoản hệ thống đang trong giai đoạn khó khăn", ông Ánh nói.
Lãnh đạo MB cho rằng bài toán vốn hiện không còn đơn thuần nằm ở tăng trưởng tín dụng mà nằm ở khả năng tạo nguồn vốn ổn định để phục vụ tăng trưởng. Trong bối cảnh huy động từ dân cư tăng chậm, nhiều ngân hàng buộc phải mở rộng thêm các kênh vốn khác như vốn quốc tế, phát hành giấy tờ có giá hoặc vay trên thị trường liên ngân hàng.
Ông Ánh cho biết ngoài huy động từ thị trường 1, MB hiện còn có vốn chủ sở hữu gần 150.000 tỷ đồng, nguồn vốn quốc tế quy mô gần 3 tỷ USD cùng khả năng bổ sung thanh khoản từ thị trường liên ngân hàng. Theo lãnh đạo MB, đây là những nguồn lực giúp ngân hàng duy trì được trạng thái thanh khoản trong bối cảnh toàn hệ thống cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt.
SSI cũng cho rằng áp lực nguồn vốn hiện nay không chỉ mang tính chu kỳ mà còn phản ánh yếu tố cấu trúc của hệ thống tài chính. Dòng tiền trong nền kinh tế đang luân chuyển chậm hơn sau giai đoạn tín dụng bất động sản tăng mạnh các năm trước, trong khi tiền gửi doanh nghiệp thường suy giảm vào đầu năm.
Trong bối cảnh đó, khả năng huy động vốn đang trở thành yếu tố phân hóa quan trọng giữa các ngân hàng. Nhà băng nào có lợi thế thanh khoản, vốn chủ sở hữu lớn hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế sẽ có nhiều dư địa tăng trưởng hơn trong giai đoạn tới.








