Là cán bộ công tác tại phòng chính sách của một doanh nghiệp sản xuất ở Phú Thọ, bà N.T.U cho biết, hiện công ty đang cân nhắc phương án tái cơ cấu lao động và dự kiến áp dụng chế độ nghỉ hưu sớm đối với một số người lao động theo thỏa thuận giữa hai bên.
Theo phương án này, người lao động chấp nhận nghỉ hưu sớm sẽ được công ty chi trả một khoản hỗ trợ bằng tiền nhằm ổn định cuộc sống sau khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Khoản hỗ trợ này không phải là tiền lương, tiền công, không phát sinh trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động và dự kiến chi trả sau thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
“Khoản tiền hỗ trợ nghỉ hưu sớm nêu trên có được xác định là thu nhập khác/thu nhập không thường xuyên của người lao động theo quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hay không? Trường hợp khoản chi này được xác định là thu nhập không thường xuyên, công ty khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên tổng số tiền chi trả trước khi thanh toán cho người lao động có phù hợp với quy định hiện hành không? Khoản thuế TNCN 10% nêu trên được xem là thuế khấu trừ cuối cùng hay người lao động vẫn phải tổng hợp khoản thu nhập này khi thực hiện quyết toán thuế TNCN năm?”, bà N.T.U gửi câu hỏi tới Bộ Tài chính mong được hướng dẫn cụ thể.

Trả lời vấn đề này, Thuế tỉnh Phú Thọ dẫn quy định tại Thông tư số 113 của Bộ Tài chính về các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công; Nghị định số 65 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN và Nghị định 126 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Quản lý thuế.
Theo đó, trường hợp người nộp thuế là người lao động nghỉ hưu sớm được công ty sử dụng lao động chi trả một khoản hỗ trợ bằng tiền, dự kiến được chi trả sau thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động với trường hợp khoản hỗ trợ bằng tiền thuộc các khoản trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội tại tiết b6, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111 thì khoản hỗ trợ này không phải là thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Trường hợp khoản hỗ trợ bằng tiền không thuộc các khoản trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội tại tiết b6, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111 nêu trên thì khoản hỗ trợ này là thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công. Khi đó, công ty sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ thuế theo quy định.
Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm từ 10 triệu đồng trở lên thì thuộc trường hợp trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế theo quy định.
Thuế tỉnh Phú Thọ đề nghị bà N.T.U đối chiếu các quy định, căn cứ các khoản thu nhập thực tế được hưởng để xác định các khoản thu nhập chịu thuế và kê khai, nộp thuế đúng quy định.






