"Hơn 40 năm hoạt động, nhưng đây là giai đoạn chúng tôi đối diện cùng lúc rất nhiều thách thức", ông Phạm Văn Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH Việt Thắng Jean (TP HCM), nói.
Nhiều năm qua, ngành dệt may chịu cạnh tranh đơn hàng gay gắt, đồng thời đứng trước áp lực chuyển đổi công nghệ, thay thế dần lao động thủ công bằng máy móc tự động với chi phí đầu tư lớn.
Doanh nghiệp vẫn duy trì tăng lương, thưởng để giữ chân lao động, song ông Việt thừa nhận "đang nợ một khoản BHXH" và dần khắc phục.
Gần đây, khi rà soát chính sách tiền lương, doanh nghiệp nhận thông báo nhiều khoản phụ cấp, trợ cấp chi trả thường xuyên phải tính vào nền đóng BHXH khiến chi phí tăng thêm.
Công nhân may làm việc trong Công ty Việt Thắng Jean. (Ảnh: Thanh Tùng).
Luật quy định mức đóng BHXH bắt buộc là 32% lương tháng, trong đó người lao động đóng 10,5% và doanh nghiệp đóng 21,5%. Mức căn cứ đóng gồm lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác, nhưng không vượt quá 20 lần lương cơ sở, tương đương 46,8 triệu đồng.
Theo ông Việt, doanh nghiệp không thể tồn tại nếu thiếu lao động, nhưng khi không còn dư địa cải tiến sản xuất thì cũng khó duy trì hoạt động.
Lãnh đạo Việt Thắng Jean cho rằng, dù không né tránh nghĩa vụ an sinh, việc tính toàn bộ khoản hỗ trợ đời sống vào nền đóng BHXH sẽ khiến chi phí tăng mạnh, nhất là khi ngành còn nhiều khó khăn.
Việt Thắng Jean không phải trường hợp cá biệt khi tính toán mức đóng BHXH. Khảo sát của Navigos Group trên hơn 250 doanh nghiệp và 1.600 người lao động cho thấy 43,14% lao động được đóng BHXH trên mức lương thấp hơn thu nhập thực tế, gần 11% chỉ đóng trên mức lương tối thiểu vùng.
Nguyên nhân có thể đến từ hạn chế ngân sách, thiếu hiểu biết pháp luật hoặc chủ đích tiết giảm chi phí để duy trì sức cạnh tranh.
Ở chiều ngược lại, Báo cáo cũng ghi nhận hơn 38% lao động được đóng BHXH trên toàn bộ thu nhập hàng tháng.
Bà Nguyễn Thụy Anh, Giám đốc nhân sự một công ty điện tử 100% vốn Mỹ, cho rằng doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, BHXH là nghĩa vụ bắt buộc, không phải lựa chọn.
Tại công ty bà, mức lương làm căn cứ đóng BHXH đạt 80–90% thu nhập thực nhận, phần còn lại là các khoản trợ cấp không thường xuyên được loại trừ.
Hơn 25 năm làm nhân sự, trải qua nhiều doanh nghiệp, bà Thụy Anh cho biết từng nhiều lần nhận yêu cầu tìm cách tối ưu chi phí lao động từ chủ doanh nghiệp, song luôn giữ quan điểm phải tuân thủ pháp luật.
"Doanh nghiệp phải tính lại bài toán chi phí, lợi nhuận và nâng năng lực cạnh tranh. Nếu không kham nổi, họ phải thu hẹp hoặc dịch chuyển", bà nói.
Điều khiến bà băn khoăn là các doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ thường phải gánh chi phí cao hơn, trong khi những đơn vị "chẻ" lương, đóng thấp, tiết kiệm được chi phí lại tạo ra lợi thế cạnh tranh nhân công thấp, giá rẻ.
Theo bà Thụy Anh, đóng đủ BHXH giúp người lao động đảm bảo an sinh, nhưng nếu chỉ một số doanh nghiệp làm đúng, số khác lách luật, bên tuân thủ sẽ chịu thiệt.
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông Nguyễn Hải Đạt, Điều phối viên Chương trình Quốc gia về An sinh xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, cho biết việc khai thu nhập làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn thực tế từng phổ biến ở nhiều nền kinh tế chuyển đổi hoặc mới hình thành hệ thống BHXH.
Doanh nghiệp chỉ ghi lương chính thức thấp trong hợp đồng, phần còn lại trả dưới dạng "lương phong bì", tức thỏa thuận miệng hoặc phân bổ sang các khoản phụ cấp, thưởng không thuộc diện đóng.
Tuy nhiên, các hình thức này giảm xuống sau các nỗ lực thúc đẩy tuân thủ chính sách an sinh xã hội của các nước.
Điển hình như Romania năm 2007 có 22% lao động nhận "lương phong bì", đến năm 2019 con số này còn dưới 5%. Kinh nghiệm chung cho thấy khi thu nhập kê khai gắn chặt với chế độ hưởng, doanh nghiệp khó duy trì tình trạng "hai sổ lương".
Nghiên cứu của ILO chỉ ra rằng dù một bộ phận lao động chấp nhận lương ngoài để tăng thu nhập trước mắt, phần lớn hình thức này do người sử dụng lao động áp đặt.
Tại Liên minh châu Âu, chỉ một trong ba lao động nhận lương không khai báo cho biết họ hài lòng, số còn lại phàn nàn vì quyền lợi tín dụng, hưu trí và các chế độ bảo vệ xã hội bị thu hẹp.
Từ góc độ chính sách, ILO cho biết nhiều quốc gia như Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Philippines đã chuyển sang đóng BHXH trên tổng thu nhập, thay vì bóc tách từng khoản. Cách tiếp cận này giúp thu hẹp khoảng cách giữa lương thực nhận và quyền lợi an sinh, hạn chế tranh cãi về căn cứ đóng.
Đối với Việt Nam, ông Đạt cho rằng tỷ lệ đóng BHXH hiện nay không cao. Tổng mức đóng bắt buộc (không tính bảo hiểm y tế) khoảng 27,5% tiền lương làm căn cứ, tương đương nhiều quốc gia trong khu vực và không chênh lệch lớn so với các nước có hệ thống an sinh toàn diện hơn.
Tuy nhiên, mức hưởng của Việt Nam cao hơn chuẩn tối thiểu quốc tế, như trợ cấp thất nghiệp 60% trong khi chuẩn tối thiểu 45% hay lương hưu có thể đạt 70–75% sau 30 năm đóng. Trường hợp thai sản hưởng 100% mức đóng trong 6 tháng.
"Vấn đề ở chỗ lương làm căn cứ đóng BHXH của lao động chỉ chiếm một phần thu nhập thực tế nên mức hưởng thực nhận lại thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn", ông Đạt đánh giá.
Tuy vậy, để cải thiện, cần nhìn nhận thực tế, tại Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp nhỏ có năng lực tài chính hạn chế, biên lợi nhuận mỏng và khả năng quản trị còn yếu. Việc mở rộng nền đóng BHXH lên toàn bộ thu nhập có thể làm chi phí lao động tăng mạnh.
Vì vậy, điều chỉnh chính sách cần đạt sự cân bằng giữa mục tiêu an sinh và khả năng chịu đựng của doanh nghiệp, tránh thay đổi đột ngột làm suy giảm mức độ tuân thủ.
Với lao động trẻ – nhóm có tính dịch chuyển cao và ưu tiên thu nhập hiện tại – nếu việc tăng nền đóng không có lộ trình và truyền thông đầy đủ, nguy cơ xa rời hệ thống BHXH sẽ càng lớn.
Người lao động nộp hồ sơ, làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm TP HCM, tháng 6/2025. (Ảnh: Quỳnh Trần).
ILO khuyến nghị xây dựng lộ trình tăng dần nền đóng BHXH, tiến tới tính trên tổng thu nhập. Thay vì bóc tách từng khoản phụ cấp, có thể áp dụng cơ chế điều chỉnh lũy tiến, cho phép doanh nghiệp và người lao động có thời gian thích nghi.
Chẳng hạn, nếu mục tiêu là đóng BHXH trên toàn bộ tiền lương, chính sách có thể triển khai theo lộ trình 10 năm, mỗi năm tăng khoảng 10% phần chênh lệch giữa thu nhập thực tế và mức đang đóng. Cách làm này giúp giảm áp lực chi phí và hạn chế phản ứng tiêu cực.
"Các phương án cần được xây dựng trên đối thoại giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, phản ánh đúng thực tiễn thị trường lao động, đồng thời hướng tới mục tiêu đưa toàn bộ tiền lương vào diện chịu đóng BHXH", ông Đạt nói.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Thụy Anh cho rằng cần quy định rõ mức lương làm căn cứ đóng BHXH tối thiểu theo tỷ lệ nhất định của thu nhập, đồng thời tăng đối chiếu, thanh tra giữa thuế và BHXH để bảo đảm doanh nghiệp tuân thủ.












