Thông tư này quy định về kiểm tra và quản lý đo lường, chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ được nhập khẩu, sản xuất, gia công, lưu thông trên thị trường; vàng miếng được nhập khẩu, sản xuất, lưu thông trên thị trường; vàng nguyên liệu được nhập khẩu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ; bán cho doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được phép sản xuất vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ theo quy định.
Dự thảo yêu cầu chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo độ tinh khiết của vàng tương ứng với hàm lượng vàng được quy định. Khi thực hiện phân hạng theo kara, vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo hạng thấp hơn liền kề với giá trị kara thực tế xác định theo phân hạng danh định tại Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này (ví dụ, vàng trang sức 21,5K thì xếp vào loại vàng 21K). Trường hợp phân hạng theo độ tinh khiết hoặc hàm lượng vàng thì công bố đúng giá trị thực tế (ví dụ, vàng trang sức có hàm lượng vàng được xác định là 78 % thì công bố là 78 % hoặc 780). Ngoài ra, sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ nếu có sử dụng vật liệu nhồi hoặc làm đầy chỗ trống phải được công bố cụ thể và công bố rõ sản phẩm không được làm toàn bộ từ hợp kim vàng.









