Chốt Top
Kinh doanh

Gỡ điểm nghẽn dự án điện LNG để ngăn nguy cơ thiếu điện

Hầu hết dự án điện LNG vẫn ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Trong báo cáo mới đây về các giải pháp đảm bảo cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, Bộ Công Thương cho biết năm 2026, tổng sản lượng điện sản xuất ước đạt 354,4 tỷ kWh, tăng gần 9,7% so với năm 2025. Công suất cực đại (Pmax) toàn hệ thống đạt 57.537 MW, cao hơn 6,4% so với mức kỷ lục năm 2025.

Bộ Công Thương nhận định việc cung cấp điện của hệ thống điện quốc gia trong năm 2026 bảo đảm, đáp ứng nhu cầu đất nước.

Song, trên cơ sở cập nhật tính toán, xác định nhu cầu sản lượng điện và công suất cực đại Pmax theo từng năm, Bộ này lo ngại sản lượng điện sẽ thiếu hụt đáng kể, đặc biệt là ở khu vực miền Bắc.

Năm 2027, cả nước dự kiến thiếu khoảng 4.256MW công suất và 2,9 tỷ kWh điện. Đến năm 2030, mức thiếu hụt có thể tăng lên gần 14.000MW và hơn 61 tỷ kWh; riêng miền Bắc thiếu khoảng 13.000MW và gần 45 tỷ kWh.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bổ sung nguồn điện và đẩy nhanh tiến độ các dự án.

bieu do nguy co thieu dien 2027 2030.png

 

Tuy nhiên, theo Bộ Công Thương, thời gian qua khối lượng đầu tư thực hiện đối với các dự án nguồn điện và lưới điện còn thấp so với yêu cầu của quy hoạch, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nguồn cung điện trong những năm tới, đặc biệt là ở giai đoạn 2027-2030.

Riêng các dự án điện khí LNG, Bộ Công Thương đánh giá các dự án này đang rất chậm trong quá trình triển khai, do khó khăn trong việc thu xếp tài chính, cung cấp tuabin, đàm phán hợp đồng mua bán điện, giá khí LNG nhập khẩu rất cao và biến động mạnh.

Mới đây, tại cuộc họp về rà soát tiến độ các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh (PDP8R), Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài cho biết, tiến độ nhiều dự án điện có chuyển biến tích cực so với thời điểm cuối năm 2025, nhất là chuỗi khí - điện Lô B và các dự án thủy điện. 

Một số dự án điện khí LNG đã lựa chọn được nhà đầu tư và đang hoàn thiện các thủ tục, giải phóng mặt bằng, thu xếp vốn, đàm phán hợp đồng thương mại.

Tuy nhiên, nhìn chung tiến độ thực hiện nhiều dự án vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Bộ Công Thương lo ngại nếu không có giải pháp quyết liệt, nhiều dự án có nguy cơ không đáp ứng tiến độ đưa vào vận hành theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, ảnh hưởng đến mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia giai đoạn 2028-2030. 

Dù vậy, hầu hết dự án điện LNG mới đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chưa tiến hành khởi công xây dựng. Công tác đàm phán hợp đồng mua bán điện (PPA) gặp nhiều khó khăn, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài cho hay.

dien khi LNG.jpg
Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 - dự án năng lượng quốc gia sử dụng khí LNG đầu tiên tại Việt Nam. Ảnh: Hoàng Anh

Trao đổi với VietNamNet, ông Phùng Ngọc Lân, Tổng Giám đốc GE Vernova Việt Nam đánh giá, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã đề ra kế hoạch tăng cường nguồn điện khí LNG, với khoảng 22,4 GW công suất LNG được bổ sung từ nay đến năm 2030. Qua đó cho thấy vai trò quan trọng của khí đốt trong quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam.

Song, các dự án điện LNG có quy mô hạ tầng lớn và phức tạp, với nhiều hạng mục cần được triển khai song song như phát triển dự án, chuẩn bị nguồn vốn và hạ tầng nhiên liệu, mua sắm thiết bị và đấu nối lưới điện. Do đó, tiến độ dự án có thể chịu tác động từ nhiều yếu tố khác nhau chứ không đơn thuần từ một vấn đề riêng lẻ.

Cần ưu tiên chủ động đón đầu nhu cầu

Ông Phùng Ngọc Lân cho rằng: Các dự án điện khí LNG phụ thuộc vào một hệ sinh thái có tính liên kết chặt chẽ, bao gồm các khung chính sách và thương mại, tài chính, hạ tầng nhiên liệu và lưới điện, công nghệ cũng như năng lực triển khai dự án. Tiến độ chung sẽ phụ thuộc vào việc các yếu tố này có thể phát triển đồng bộ hay không.

Một yếu tố khác ngày càng đáng lưu ý là thị trường thiết bị phát điện toàn cầu. Khi nhu cầu bổ sung công suất phát điện mới gia tăng trên nhiều thị trường, năng lực sản xuất của các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM), thời gian giao thiết bị và chi phí đang trở thành những yếu tố quan trọng cần được cân nhắc. Điều này càng cho thấy sự cần thiết của việc đưa ra quyết định đầu tư và mua sắm kịp thời để đảm bảo tiến độ triển khai dự án.

Tổng Giám đốc GE Vernova Việt Nam đánh giá tài chính cũng là một phần quan trọng của bài toán, đặc biệt khi quá trình chuyển đổi ngành điện của Việt Nam đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn.

Nghiên cứu của GE Vernova cho thấy việc đa dạng hóa nguồn tài trợ – bao gồm các Cơ quan Tín dụng Xuất khẩu (ECA), các ngân hàng thương mại có bảo lãnh ECA và các cấu trúc dự án có khả năng vay vốn – có thể giúp mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn và tối ưu hóa chi phí tài chính.  

Cuối cùng, để triển khai thành công, toàn bộ hệ sinh thái cần phát triển đồng bộ. Bên cạnh nguồn vốn và hạ tầng, Việt Nam cũng cần năng lực kỹ thuật và lãnh đạo để xây dựng, vận hành một hệ thống điện ngày càng phức tạp ở quy mô lớn.

Nghiên cứu của GE Vernova ước tính lực lượng lao động ngành điện Việt Nam có thể tăng 67%, từ khoảng 300.000 lên 500.000 lao động toàn thời gian (FTE) vào năm 2035. Điều này cho thấy phát triển năng lực con người cần song hành với đầu tư vào hạ tầng vật chất.

Việt Nam đã đạt được những bước tiến trong phát triển hạ tầng nhập khẩu LNG, với kho cảng LNG Thị Vải và Cái Mép hiện đã đi vào vận hành tại phía Nam, phục vụ nhu cầu trong khu vực, trong đó có Nhơn Trạch 3 & 4 và Trung tâm Điện lực Phú Mỹ. 
Đồng thời, các dự án điện khí LNG đang được quy hoạch trải dài dọc bờ biển Việt Nam, trong đó nhiều dự án cần có kho cảng LNG và hạ tầng hỗ trợ. Điều này sẽ đòi hỏi những nỗ lực phát triển và phối hợp đáng kể trong những năm tới.

Từ góc nhìn hệ thống, hạ tầng nhiên liệu, nguồn phát điện và các kết nối lưới điện cần được phát triển đồng bộ.

"Các phân tích trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc tăng cường những trục “xương sống” trong truyền tải điện, cùng với năng lực lưới điện thông minh và khả năng dự báo, sẽ đóng vai trò then chốt để kết nối nguồn phát điện mới với các trung tâm phụ tải lớn", ông Tùng chia sẻ.

Theo ông Tùng, an ninh năng lượng cần được nhìn nhận như một thách thức của toàn hệ thống, thay vì đơn thuần là bài toán bổ sung công suất phát điện. Như nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra, phát điện linh hoạt, lưu trữ năng lượng và tăng cường hạ tầng truyền tải sẽ đóng vai trò thiết yếu trong việc quản lý một hệ thống điện ngày càng lớn và đa dạng.

"Chúng ta cần ưu tiên chủ động đón đầu nhu cầu, thay vì ứng phó thụ động với những điểm nghẽn sau khi chúng xuất hiện", ông Phùng Ngọc Lân chia sẻ, "Việc đầu tư kịp thời và đồng bộ vào nguồn điện, lưới điện và các giải pháp tăng cường tính linh hoạt của hệ thống sẽ đóng vai trò then chốt, giúp hệ thống năng lượng Việt Nam tiếp tục đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đồng thời thúc đẩy các mục tiêu khử carbon trong dài hạn".

Các tin khác