Doanh nghiệp chây ì tiền thuê, chủ nhà nhiều lần đòi bất thành
Nội dung vụ việc bắt nguồn từ hợp đồng thuê nhà ký tháng 4/2022 giữa ông N. (TPHCM) và Công ty cổ phần T2. Hai bên thỏa thuận tiền đặt cọc hơn 4,62 tỷ đồng, trong đó một nửa được thanh toán bằng tiền mặt, phần còn lại được đảm bảo bằng thư bảo lãnh do một ngân hàng thương mại phát hành. Ông N. nhận đủ số tiền là hơn 2,3 tỷ đồng qua chuyển khoản từ Công ty T2 và chứng thư bảo lãnh.
Theo cam kết, ngân hàng sẽ “chi trả vô điều kiện” số tiền cọc còn lại là hơn 2,3 tỷ đồng bằng tiền mặt khi ông N. có yêu cầu.
Sau khi ký hợp đồng, Công ty T2 đã thanh toán kỳ thuê (3 tháng) đầu tiên. Tuy nhiên, từ tháng 11/2022, doanh nghiệp này không tiếp tục trả tiền thuê theo thỏa thuận, cũng không có bất kỳ phản hồi nào dù phía chủ nhà liên tiếp gửi 3 văn bản nhắc nợ và gia hạn.

Đến cuối tháng 12/2022, khi quá thời hạn thanh toán, ông N. quyết định gửi thông báo chấm dứt hợp đồng trước hạn tới Công ty T2 do bên thuê vi phạm nghiêm trọng. Đồng thời, ông thực hiện quyền thu hồi tiền đặt cọc theo thỏa thuận, trong đó có hơn 2,3 tỷ đồng được bảo lãnh bởi ngân hàng.
Ngày 3/1/2023, ông N. nộp yêu cầu thanh toán bảo lãnh kèm bản gốc chứng thư tại chi nhánh ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng không thực hiện chi trả, cũng không phản hồi rõ ràng dù ông N. nhiều lần liên hệ qua văn bản, email và đề nghị hòa giải.
Không còn cách nào khác, ông N. khởi kiện ngân hàng ra tòa, yêu cầu thanh toán tiền bảo lãnh và lãi chậm trả.
Đáng chú ý, trong quá trình giải quyết vụ án, cả ngân hàng và Công ty T2 đều không cung cấp tài liệu, chứng cứ phản bác yêu cầu của nguyên đơn trong giai đoạn đầu tố tụng.
Tòa buộc ngân hàng phải trả gần 3 tỷ đồng theo bảo lãnh
Ở cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ngân hàng phải trả cho ông N. tổng cộng hơn 2,9 tỷ đồng, bao gồm tiền bảo lãnh và lãi phát sinh do chậm thanh toán.
Không đồng ý với phán quyết, Công ty T2 với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã kháng cáo toàn bộ bản án. Doanh nghiệp này cho rằng đã đầu tư cải tạo mặt bằng với giá trị lớn, khoảng 3,5 tỷ đồng và để lại tài sản trên mặt bằng sau khi chấm dứt hợp đồng. Từ đó, đề nghị được đối trừ giá trị này vào tiền đặt cọc, đồng thời yêu cầu tạm đình chỉ vụ án để chờ giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tại một vụ kiện khác ở TPHCM.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định, việc Công ty T2 không thanh toán tiền thuê là vi phạm rõ ràng nghĩa vụ hợp đồng. Theo thỏa thuận, khi bên thuê vi phạm, bên cho thuê có quyền giữ toàn bộ tiền đặt cọc.
Do đó, việc ông N. yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là có căn cứ.
Đối với lập luận về tài sản đầu tư để lại, tòa cho rằng đây là quan hệ pháp lý khác, có thể được giải quyết bằng một vụ kiện riêng nếu có đủ căn cứ. Việc này không làm thay đổi nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng trong vụ án hiện tại.
Hội đồng xét xử cũng bác đề nghị hoãn phiên tòa của Công ty T2, cho rằng lý do đưa ra không có căn cứ và không ảnh hưởng đến việc xét xử.
Theo hồ sơ vụ án, tòa xác định ngân hàng đã nhận được yêu cầu thanh toán hợp lệ nhưng không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn quy định. Vì vậy, ngoài số tiền bảo lãnh hơn 2,3 tỷ đồng, ngân hàng còn phải trả lãi chậm trả tính theo mức 10%/năm, nâng tổng số tiền phải thanh toán lên gần 3 tỷ đồng tính từ thời điểm ngân hàng nhận yêu cầu thanh toán hợp lệ (ngày 3/1/2023) đến ngày xét xử.
Từ các phân tích trên, Tòa án nhân dân TP Hà Nội quyết định không chấp nhận kháng cáo của Công ty T2, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên.





