Thay đổi hay tụt lại
Khoảng 1 thập niên trước, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) đứng trước bài toán không dễ giải. Khi đó, MB có khoảng 8.000 nhân sự và 250 điểm giao dịch trong khi nhiều ngân hàng lớn trên thị trường đã sở hữu mạng lưới rộng hơn và lực lượng nhân sự đông hơn rất nhiều. Nếu tiếp tục cạnh tranh bằng cách mở thêm chi nhánh, tuyển thêm người và mở rộng theo mô hình ngân hàng truyền thống, MB khó có thể nhanh chóng thu hẹp khoảng cách. Thay vì chạy theo cuộc đua về quy mô vật lý, MB chọn hướng đi khác: dùng công nghệ để tạo ra quy mô mới. Đó cũng là điểm khởi đầu cho hành trình chuyển đổi số kéo dài gần 1 thập niên của nhà băng này.



Các ngân hàng đẩy mạnh đầu tư công nghệ trong cuộc cạnh tranh mới
ẢNH: V.L
Tại phiên khai mạc Diễn đàn Đổi mới sáng tạo toàn cầu Việt Nam 2026 (VGIC 2026) với chủ đề "Công nghệ tương lai - Bước nhảy số Việt Nam" diễn ra cuối tháng 7 vừa qua, ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch HĐQT MB, nhìn lại lựa chọn này và cho rằng sau gần 1 thập niên triển khai, nền tảng số đã giúp ngân hàng mở rộng khả năng giao dịch 24/7, cải thiện năng suất lao động và tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Quy mô tổng tài sản trong 5 năm qua tăng bình quân gấp 3 lần, doanh thu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 25% mỗi năm. Đáng chú ý, số lượng khách hàng đã tăng gấp 5 lần, phục vụ gần 40 triệu khách hàng, xử lý khoảng 20 tỉ giao dịch mỗi năm…, đưa MB trở thành một trong những ngân hàng dẫn đầu về quy mô khách hàng trên thị trường. Dự kiến doanh thu kênh số của MB sẽ vào khoảng 60% vào cuối năm 2026.
Với MB, câu chuyện ấy không còn nằm trên lý thuyết, điều đáng nói hơn là cách công nghệ thay đổi công việc bên trong ngân hàng. Tại MB, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ để giúp một quy trình nhanh hơn mà mục tiêu lớn hơn là giúp hiểu khách hàng theo một cách khác. Câu chuyện của BIZ MBBank là ví dụ điển hình. Trước đây, khi thẩm định một doanh nghiệp (DN), ngân hàng chủ yếu phải đọc hồ sơ, xem tài sản bảo đảm và dựa vào những dữ liệu truyền thống. Khi dữ liệu được số hóa và AI được đưa vào quy trình, cách tiếp cận bắt đầu thay đổi. Thay vì yêu cầu DN có tài sản gì, ngân hàng có thể nhìn vào hóa đơn, doanh thu, dòng tiền, lịch sử giao dịch và dữ liệu vận hành để hiểu DN đang hoạt động như thế nào, đang ở đâu trong chu kỳ kinh doanh và thực sự cần nguồn vốn vào thời điểm nào. Sự thay đổi ấy tạo ra những kết quả rất cụ thể, chẳng hạn thời gian xử lý hồ sơ được rút từ khoảng 10 ngày xuống còn 2 ngày. DN có thể tiếp cận hạn mức thấu chi tín chấp lên tới 3 tỉ đồng. Không những vậy, từ kênh giao dịch số, BIZ MBBank đang được mở rộng thành nền tảng hỗ trợ DN quản lý dòng tiền, thanh toán, tín dụng và tài trợ thương mại. Kết quả là số lượng khách hàng sử dụng giải pháp này hiện tăng 2,5 lần, dư nợ tăng 3,5 lần, trong khi tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát khoảng 0,9%.
Để tạo ra những thay đổi đó, MB cũng phải thay đổi chính mình. Dù đã là một ngân hàng có quy mô lớn, theo Tổng giám đốc Phạm Như Ánh, mỗi năm MB dành khoảng 100 triệu USD cho hạ tầng công nghệ, tự động hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đội ngũ chuyên trách kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đã lên tới khoảng 2.500 người. Công nghệ vì thế không còn là một bộ phận hỗ trợ phía sau hoạt động kinh doanh, mà trở thành "xương sống" của ngân hàng.
Câu chuyện của Công ty cổ phần Thành Thành Công (AgriS) cũng là điển hình cho sự chuyển mình của DN trong kỷ nguyên mới. Thay vì duy trì mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô, DN đã chuyển đổi chiến lược với việc triển khai mô hình chuỗi giá trị thương mại tuần hoàn, tích hợp các trung tâm kinh doanh nông nghiệp, sản xuất và thương mại, đi cùng các trụ cột công nghệ nông nghiệp (AgTech), công nghệ thực phẩm (FoodTech) và công nghệ tài chính (FinTech) trên nền tảng ESG. Cách tiếp cận này cho phép AgriS chuyển vai trò từ nhà sản xuất sang đơn vị tổ chức và điều phối chuỗi giá trị, nơi các chủ thể từ nông dân, nhà khoa học đến các định chế tài chính và cơ quan quản lý được kết nối trong một cấu trúc vận hành thống nhất. Thay vì tối ưu chi phí từng khâu, mô hình mới hướng đến tối đa hóa giá trị toàn chuỗi, giảm lãng phí và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu đến thị trường.
Công nghệ không thể trở thành lý do để DN đánh đổi con người và môi trường lấy tăng trưởng. Phát triển bền vững đòi hỏi DN phải cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, lợi ích của người lao động, trách nhiệm với cộng đồng và bảo vệ môi trường. Công nghệ có thể giúp DN đi nhanh hơn, nhưng trách nhiệm mới quyết định DN sẽ đi về đâu và tạo ra giá trị gì cho xã hội. DN tử tế có thể nâng tầm cả ngành, xây dựng hệ sinh thái và cuối cùng trở thành một lực lượng đóng góp vào sự phát triển của quốc gia. Càng lớn, DN càng có nhiều nguồn lực để cống hiến. Khi đó, thước đo thành công không chỉ là doanh thu, lợi nhuận hay giá trị vốn hóa, mà còn là DN đã tạo thêm bao nhiêu giá trị cho con người, cho xã hội, cho ngành nghề và cho đất nước trong quá trình phát triển của mình.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu
Bà Đặng Huỳnh Ức My, Chủ tịch HĐQT AgriS, từng trăn trở nông nghiệp Việt Nam không yếu về nguồn cung, sản lượng hay chất lượng. Vấn đề nằm ở cấu trúc vận hành chưa đủ năng lực chuyển hóa thành giá trị bền vững. Trong nhiều năm, công ty tập trung nghiên cứu hướng đi qua từng thương vụ M&A, từng vùng nguyên liệu, từng thị trường xuất khẩu. Đây cũng chính là khát vọng lấy "cửa thắng" cho nông nghiệp Việt, trong bối cảnh AgriS đang bước vào giai đoạn tăng tốc để trở thành DN nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu vươn ra biển lớn. Để đạt mục tiêu, AgriS đang theo đuổi hướng tiếp cận mang tính hệ thống: tái cấu trúc cách nông nghiệp tạo ra giá trị, từ mô hình sản xuất sang mô hình nền tảng, từ chuỗi rời rạc sang chuỗi tích hợp, từ lợi thế tài nguyên sang lợi thế dữ liệu và quản trị.
Song song với chuyển đổi trong nước, AgriS cũng đẩy mạnh chiến lược mở rộng ra thị trường quốc tế, coi đây là không gian tăng trưởng quan trọng trong dài hạn. Hiện DN đang quản lý và hợp tác phát triển gần 80.000 ha vùng nguyên liệu tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Úc, đồng thời xuất khẩu hơn 200 dòng sản phẩm đến hơn 80 thị trường. Thay vì chỉ xuất khẩu sản phẩm thô, AgriS tập trung vào chế biến sâu và phát triển các dòng sản phẩm giá trị gia tăng cao, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, DN từng bước mở rộng mô hình vận hành sang các thị trường có nhu cầu tái cấu trúc nông nghiệp. Việc mở rộng quốc tế được hỗ trợ bởi mạng lưới nghiên cứu và phát triển tại nhiều quốc gia, giúp DN tiếp cận các tiến bộ khoa học công nghệ và rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tiễn. Đây là cơ sở để AgriS không chỉ xuất khẩu sản phẩm mà còn từng bước tham gia định hình chuỗi giá trị nông nghiệp ở quy mô khu vực.
Đầu tư vào công nghệ phải song song với đầu tư vào con người
Câu chuyện của MB và AgriS không đơn thuần là câu chuyện một ngân hàng hay DN đã đưa AI vào ứng dụng hay xây dựng thêm các nền tảng số. Đó là câu chuyện về lựa chọn thay đổi cách cạnh tranh nhằm giải quyết bất lợi bằng công nghệ.
Song song với tái cấu trúc mô hình kinh doanh, AgriS đã triển khai đề án hiện đại hóa, số hóa nông nghiệp giai đoạn 2025 - 2030, với trọng tâm là xây dựng hệ thống dữ liệu xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị. Đáng chú ý, đề án không dừng ở phạm vi nội bộ DN mà hướng tới chuẩn hóa dữ liệu cho toàn ngành thông qua sáng kiến Trung tâm Dữ liệu trồng trọt quốc gia. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và minh bạch, không chỉ hiệu quả sản xuất được cải thiện mà khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu và tiếp cận dòng vốn quốc tế cũng được nâng cao. Đây là yếu tố ngày càng quan trọng trong bối cảnh các thị trường lớn như châu Âu, Nhật Bản hay Hàn Quốc siết chặt yêu cầu về phát triển bền vững.
Thực tế, khi ngày càng nhiều chuỗi giá trị toàn cầu dịch chuyển về Việt Nam, một DN lớn không thể hoạt động tách biệt với hàng trăm, hàng nghìn nhà cung cấp phía sau. Vì thế, các DN lớn ứng dụng công nghệ không chỉ đơn thuần cung cấp dịch vụ mà họ còn tham gia chuỗi cung ứng. Điển hình MB phát triển nền tảng tài trợ chuỗi cung ứng đa tầng (Deep-Tier SCF Platform), kết nối DN trung tâm với hệ sinh thái nhà cung cấp trên cùng một nền tảng số. Ở đó, công nghệ không chỉ giúp một giao dịch diễn ra nhanh hơn. Nó giúp dòng tiền được nhìn thấy rõ hơn, thanh toán linh hoạt hơn và nguồn vốn được đưa đến sâu hơn trong chuỗi cung ứng. DN trung tâm có thể quản trị chuỗi tốt hơn, còn các nhà cung cấp có thêm cơ hội cải thiện vốn lưu động. Đó chính là lúc chuyển đổi số vượt ra khỏi câu chuyện của một ngân hàng để trở thành một phần của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận xét kỷ nguyên công nghệ đang làm thay đổi nhanh chóng cách DN sản xuất, kinh doanh cũng như cạnh tranh. Trong bối cảnh đó, trách nhiệm của doanh nhân cũng cần được nhìn nhận rộng hơn: không chỉ tạo ra lợi nhuận cho DN mà còn phải tạo giá trị cho người lao động, đối tác, cộng đồng và nền kinh tế.

Vùng nguyên liệu của AgriS được ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất
ẢNH: H.T
"DN một mình thì khả năng phát triển thị trường rất hạn chế. Các DN phải liên kết với nhau để tạo ra sức mạnh chung, qua đó cạnh tranh và duy trì sự sống còn. Khi các chủ thể cùng tham gia và chia sẻ dữ liệu, nguồn lực, giá trị tạo ra không chỉ thuộc về một DN mà có thể lan tỏa trong cả chuỗi. Đây cũng là lúc trách nhiệm của doanh nhân được đặt ra rõ hơn. Một DN lớn không chỉ có doanh thu hay quy mô lớn, mà còn phải có khả năng kéo theo các đối tác, DN nhỏ và vừa cũng như người lao động cùng phát triển. Cuộc cạnh tranh của DN Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ không chỉ là cuộc đua xem ai tăng trưởng nhanh hơn, mà là cuộc đua xem ai có khả năng làm cho nhiều người cùng tăng trưởng hơn", ông Hiếu nhận định.
Mặt khác, vị chuyên gia này cho rằng AI cũng đặt ra những thách thức xã hội, đặc biệt là đối với việc làm. Khi công nghệ có thể thay thế nhiều công việc, DN không nên chỉ coi AI là công cụ cắt giảm nhân sự và chi phí mà cần đào tạo, nâng cao kỹ năng và tái sử dụng người lao động để họ thích ứng với công nghệ mới. AI có thể hỗ trợ phân tích và đưa ra lựa chọn, nhưng những quyết định quan trọng vẫn cần con người. Vì vậy, đầu tư vào con người phải đi song song với đầu tư công nghệ.
Sự tử tế là động lực tăng trưởng kinh tế
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Trưởng khoa Tài chính - ngân hàng Trường ĐH Nguyễn Trãi (NTU), tại các nền kinh tế phát triển, xu hướng ngày càng rõ là DN không chỉ được nhìn nhận qua quy mô doanh thu hay lợi nhuận, mà còn qua chất lượng giá trị tạo ra. Hiệu quả sử dụng tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, minh bạch chuỗi cung ứng, chất lượng việc làm, đổi mới công nghệ và trách nhiệm cộng đồng đang dần trở thành những thành tố quan trọng của năng lực cạnh tranh dài hạn. DN tử tế không nhất thiết bắt đầu bằng những cam kết lớn lao. Nó có thể bắt đầu rất thực tiễn: làm sản phẩm tốt hơn, phục vụ khách hàng tốt hơn, sử dụng ít nguồn lực hơn để tạo ra nhiều giá trị hơn, minh bạch nguồn gốc, đối xử công bằng với người lao động và đối tác; bảo đảm lợi ích chính đáng của cổ đông, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, đồng thời phát triển hệ sinh thái theo những chuẩn mực ngày càng cao.
"Khi những nguyên tắc ấy được đưa vào chiến lược, quản trị và vận hành, sự tử tế có thể tạo ra niềm tin; niềm tin tạo ra khách hàng, nhân tài, đối tác và nguồn vốn; rồi những nguồn lực ấy tiếp tục tạo ra tăng trưởng. Đó có thể là vòng tròn tích cực của kinh doanh hiện đại: kinh doanh bằng sự tử tế, tăng trưởng bằng giá trị và phát triển bằng trách nhiệm. Khi ấy, DN không chỉ là một tổ chức tạo ra lợi nhuận, mà từng bước trở thành một tổ chức phát triển có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Và sự tử tế, thay vì là chi phí của tăng trưởng, trở thành nguồn vốn đặc biệt giúp DN đi xa hơn, bền vững hơn và trường tồn hơn", ông Nguyễn Quang Huy nhìn nhận.
Việt Nam đang đứng trước một "cửa sổ cơ hội" để tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia nhờ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch HĐQT MB











