Tài chính

Tỷ giá ngoại tệ ngày 9/5: Loạt đồng tiền tiếp tục suy yếu

Tóm tắt:

  • Nhiều đồng tiền ngoại như euro, yen Nhật đồng loạt giảm giá so với đồng VND vào ngày 9/5.

  • Tỷ giá yen Nhật cao nhất chiều mua là 175,26 VND/JPY tại Eximbank.

  • Tỷ giá đô la Úc cũng giảm, BIDV có tỷ giá mua cao nhất đạt 16.363 VND/AUD.

  • VietinBank có tỷ giá mua bảng Anh cao nhất tại 33.926 VND/GBP trong khi Agribank bán thấp nhất.

  • Vietcombank giảm tỷ giá mua nhân dân tệ xuống 3.498 VND/CNY, tỷ giá USD là 25.750 VND/USD.

Tỷ giá yen Nhật (JPY) hôm nay (09/05) tiếp tục giảm. Hiện, mức tỷ giá cao nhất ở chiều mua là 175,26 VND/JPY được ghi nhận tại Eximbank, ngân hàng này cũng là nơi có tỷ giá đạt mức thấp nhất là 181,24 VND/JPY ở chiều bán ra.

 

Ngân hàng Tỷ giá JPY hôm nay Thay đổi so với hôm qua
Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra
Vietcombank 171,82 173,55 182,73 -2,49 -2,53 -2,66
Agribank 173,90 174,60 181,74 -2,27 -2,28 -2,46
VietinBank 174,74 175,24 183,74 -2,35 -2,35 -1,35
BIDV 174,55 174,87 182,72 -2,35 -2,35 -2,40
Techcombank 171,43 175,65 183,99 -2,39 -2,40 -2,43
Eximbank 175,26 175,79 181,24 -2,33 -2,33 -2,39
Sacombank 174,70 175,70 182,25 -2,37 -2,37 -2,38

Tỷ giá đô la Úc tại các ngân hàng hôm nay

Tỷ giá đô la Úc (AUD) hôm nay tiếp tục đi xuống. Tỷ giá ở chiều mua vào cao nhất là 16.363 VND/AUD thuộc về ngân hàng BIDV. Ngược lại, tỷ giá ở chiều bán ra thấp nhất ở mức 16.845 VND/AUD tại ngân hàng Vietcombank.

 

Ngân hàng Tỷ giá AUD hôm nay Thay đổi so với hôm qua
Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra
Vietcombank             16.159             16.322             16.845 -116 -118 -121
Agribank             16.260             16.325             16.854 -144 -145 -146
Vietinbank             16.346             16.396             16.896 -144 -144 -144
BIDV             16.363             16.423             16.867 -141 -141 -148
Techcombank             16.065             16.331             16.927 -141 -142 -144
Eximbank             16.327             16.376             16.911 -128 -128 -132
Sacombank             16.235             16.335             16.903 -120 -120 -117

 Tỷ giá bảng Anh tại các ngân hàng hôm nay

Tỷ giá bảng Anh (GBP) sáng nay cũng đi xuống. VietinBank hiện đang là ngân hàng có tỷ giá mua vào đạt mức cao nhất 33.926 VND/GBP. Trong khi Agribank là ngân hàng có tỷ giá bán ra đạt mức thấp nhất 34.851 VND/GBP.

 

Ngân hàng Tỷ giá GBP hôm nay Thay đổi so với hôm qua
Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra
Vietcombank             33.466             33.804             34.887 -164 -166 -171
 Agribank             33.746             33.882             34.851 -158 -158 -160
Vietinbank             33.926             34.026             34.886 -175 -175 -175
BIDV             33.920             34.012             34.922 -161 -161 -174
Techcombank             33.554             33.943             34.912 -194 -194 -185
Eximbank             33.844             33.912             34.949 -154 -154 -158
Sacombank             33.857             33.907             35.012 -158 -158 -163

 Tỷ giá won Hàn Quốc tại các ngân hàng hôm nay

Tỷ giá won Hàn Quốc (KRW) hôm nay tại các ngân hàng tiếp tục hạ nhiệt. Theo khảo sát, ngân hàng BIDV niêm yết tỷ giá mua vào cao nhất ở mức 17,12 VND/KRW. BIDV cũng là ngân hàng có mức tỷ giá bán ra thấp nhất là 19,17 VND/KRW.

 

Ngân hàng Tỷ giá KRW hôm nay Thay đổi so với hôm qua
Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán ra
Vietcombank 15,97 17,74 19,25 -0,10 -0,12 -0,12
Agribank - 17,63 19,42 - -0,13 -0,17
Vietinbank 15,40 17,40 19,20 -0,16 -0,16 -0,16
BIDV 17,12 17,85 19,17 -0,17 -0,18 -0,18
Techcombank - 17,40 19,30 - 0,00 0,00

Tỷ giá nhân dân tệ tại các ngân hàng hôm nay

Khảo sát tỷ giá nhân dân tệ (CNY) hôm nay cho thấy, riêng Vietcombank triển khai tỷ giá mua vào nhân dân tệ bằng tiền mặt, giảm 3 đồng so với ngày hôm qua.

Tỷ giá Vietcombank đối với đồng nhân dân tệ (CNY) ở chiều mua tiền mặt là 3.498 VND/CNY.

Ngân hàng

Tỷ giá CNY hôm nay

Thay đổi so với hôm qua

 Mua tiền mặt

 Mua chuyển khoản

 Bán ra

Mua tiền mặt

Mua chuyển khoản

Bán ra

Vietcombank

              3.498

              3.533

              3.646

-3

-4

-4

Vietinbank

-

              3.536

              3.636

-

-1

-1

BIDV

-

              3.550

              3.647

-

-5

-5

Techcombank

-

              3.358

              3.600

-

0

0

Eximbank

-

              3.524

              3.674

-

0

0

Bên cạnh đó một số loại ngoại tệ khác được giao dịch tại Vietcombank với tỷ giá như sau:

Tỷ giá USD đang có tỷ giá mua vào và bán ra là: 25.750 VND/USD và 26.140 VND/USD.

Tỷ giá euro (EUR) đang có tỷ giá mua vào và bán ra là: 28.383 VND/EUR và 29.939 VND/EUR.

Tỷ giá đô la Singapore (SGD) đang có tỷ giá mua vào và bán ra là: 19.437 VND/SGD và 20.303 VND/SGD.

Tỷ giá đô la Canada (CAD) đang có tỷ giá mua vào và bán ra là: 18.166 VND/CAD và 18.938 VND/CAD.

Tỷ giá baht Thái Lan (THB) đang có tỷ giá mua vào và bán ra là: 691 VND/THB và 800 VND/THB.

Bảng tỷ giá ngoại tệ trên đây có thể thay đổi vào tùy từng thời điểm trong ngày. Quý khách vui lòng liên hệ tới ngân hàng để cập nhật tỷ giá ngoại tệ mới nhất.

Các tin khác

VIB giới thiệu bộ giải pháp tài chính và số hóa cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

VIB giới thiệu bộ giải pháp tài chính và số hóa cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ngân hàng Quốc Tế (VIB) phối hợp với đối tác Visa và Công ty Cổ phần Giải pháp Thanh toán Việt Nam (VNPAY) chính thức giới thiệu bộ giải pháp tài chính và số hóa toàn diện, được thiết kế đặc biệt nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Việt Nam nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu hoạt động và thúc đẩy tăng trưởng bền
Giá vàng đảo chiều giảm 2,2 triệu đồng mỗi lượng

Giá vàng đảo chiều giảm 2,2 triệu đồng mỗi lượng

Các "nhà vàng" niêm yết giá bán ra của vàng miếng SJC quanh mốc 120,5 triệu đồng/lượng, giảm 2,2 triệu đồng so với lúc mở phiên. Giá vàng thế giới rạng sáng 9/5 giảm hơn 70 USD so với trước đó.
Nợ xấu ngân hàng tăng vọt trong quý đầu năm

Nợ xấu ngân hàng tăng vọt trong quý đầu năm

Mặc dù nợ xấu tiếp tục tăng mạnh trong quý I nhưng dự phòng rủi ro lại không tăng tương xứng khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu ngân hàng sụt giảm. Bộ đệm dự phòng rủi ro suy yếu có thể tạo ra áp lực trong những quý tiếp theo.