Văn bản Hán Nôm đề ngày 28 tháng 4 năm Hoằng Định thứ 4 (1604) ghi rõ: "Tá trung hầu Thủy thuyền Bùi Đức Tiến, các tướng thần Bùi Văn Hiến, Võ Lương, Trần Ất, xã trưởng Bùi Đức Thắng cùng nhiều người khác ở xã Tư Cung, Châu Me, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi trình bày việc có xem xét ở ngoài Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) còn phần đất lâm lộc (đất rừng ở chân núi) có thể chặt phá làm sơn điền (ruộng núi), nên khẩn khoản xin ân chỉ được khai phá...".
Cuối văn bản có lời phê cho phép của quan trên: "Giao cho được đốn chặt để canh tác. Nay giao". Theo các tư liệu Hán Nôm và truyền khẩu của cư dân đất đảo, 8 người làng An Hải phía bắc cửa biển Sa Kỳ ra khai phá và lấy tên cố hương đặt cho làng mới, gọi là An Hải phường. Tương tự, 7 người làng An Vĩnh phía nam cửa biển ra khai khẩn và đặt tên là An Vĩnh phường để nhớ quê xưa. Dưới thời các chúa Nguyễn, 2 phường trên lệ thuộc vào 2 làng An Hải và An Vĩnh trong đất liền; đến năm Gia Long thứ 4 (1804) mới tách ra để lập làng riêng, tự định đoạt việc tế tự, điền thổ, thuế bạ, hương ước...







