Theo biểu lãi suất huy động trực tuyến cập nhật trên ứng dụng ACB One ngày 27/1, đơn vị này tăng 0,1%/năm lãi suất ở một số kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng lên 4,6%/năm; kỳ hạn 6-8 tháng lên 6,15%/năm; kỳ hạn 9-11 tháng lên 6,25%/năm. Lãi suất tiết kiệm cao nhất hiện đạt 6,35%/năm, trong khi kỳ hạn 3-5 tháng được giữ nguyên ở mức 4,65%/năm.
Dù điều chỉnh tăng, lãi suất tiền gửi của ACB vẫn thấp hơn mặt bằng chung, khi nhiều ngân hàng niêm yết 6,5-7,2%/năm, thậm chí lãi suất thực tế ở kỳ hạn từ 6 tháng đã vượt 8%/năm.
Đáng chú ý, lãi suất ACB áp dụng thực tế trùng với mức công bố trên ứng dụng ACB One nhưng cao hơn đáng kể so với biểu lãi suất niêm yết trên website.
Theo đó, với tiền gửi trực tuyến dưới 200 triệu đồng, lãi suất cao nhất trên website chỉ 5,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng; ngay cả với số dư từ 5 tỷ đồng trở lên, lãi suất tối đa cũng chỉ 5,9%/năm. ACB hiện áp dụng lãi suất thưởng bậc thang từ 0,1-0,2%/năm, tùy quy mô tiền gửi.

Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Thành Đông).
Theo biểu lãi suất ngày 27/1, ở kỳ hạn 1 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến giữa các ngân hàng dao động khá rộng, từ 1,6-4,75%/năm.
Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức lãi suất thấp, trong đó Vietcombank chỉ niêm yết 2,1%/năm, còn Agribank, BIDV và VietinBank cùng ở mức 3%/năm. Ngược lại, phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng lãi suất cao hơn, phổ biến quanh 4,5-4,75%/năm. ACB niêm yết lãi suất 4,6%/năm, cao hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng lớn và tiệm cận nhóm có mức lãi suất cao nhất thị trường.
Ở kỳ hạn 3 tháng, lãi suất huy động trực tuyến tập trung chủ yếu trong khoảng 4,5-4,75%/năm. Các ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì lãi suất thấp, phổ biến từ 3,4-3,5%/năm, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần như LPBank, MBV, Nam A Bank, OCB, Techcombank niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm. ACB áp dụng lãi suất 4,65%/năm, thuộc nhóm cao trên thị trường và cao hơn mặt bằng của các ngân hàng quốc doanh.
Ở kỳ hạn 6 tháng, mặt bằng lãi suất có sự phân hóa rõ rệt. Nhóm ngân hàng lớn duy trì mức thấp, Vietcombank chỉ niêm yết 3,5%/năm, còn BIDV và VietinBank ở mức 4,5%/năm.
Trong khi đó, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đẩy lãi suất tiền gửi lên mức cao, nổi bật là PGBank với 7,1%/năm - cao nhất thị trường; tiếp đến là Techcombank (6,85%/năm), Bac A Bank (6,8%/năm), ABBank, MBV và Vikki Bank cùng ở mức 6,5%/năm. ACB niêm yết lãi suất 6,15%/năm, cao hơn mặt bằng chung nhưng chưa thuộc nhóm dẫn đầu.

Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Ở kỳ hạn 9 tháng, lãi suất huy động tiếp tục duy trì xu hướng phân hóa. PGBank vẫn dẫn đầu thị trường với mức 7,1%/năm. Nhiều ngân hàng khác như ABBank, MBV, Vikki Bank niêm yết quanh 6,5%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh giữ nguyên mức thấp, phổ biến quanh 4,5-5%/năm. ACB áp dụng lãi suất 6,25%/năm, cao hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng lớn.
Ở kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất phổ biến dao động từ 5,8-6,5%/năm. Nhóm ngân hàng trả lãi suất cao nhất gồm MBV và PGBank cùng niêm yết 7,2%/năm, theo sau là Techcombank với 6,95%/năm và Bac A Bank ở mức 6,85%/năm. Trong khi đó, các ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi suất thấp hơn, quanh 5,2-5,3%/năm. ACB niêm yết lãi suất 6,35%/năm.
Ở kỳ hạn 18 tháng, nhóm dẫn đầu gồm MBV với 7,2%/năm, Bac A Bank với 6,9%/năm, cùng OCB, PGBank và PVcomBank ở mức 6,8%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ mức lãi suất thấp, phổ biến quanh 5,3%/năm. ACB không niêm yết lãi suất huy động ở kỳ hạn này trên ứng dụng.
Theo thống kê, từ đầu tháng 1, có 14 ngân hàng thay đổi lãi suất huy động. Trong đó, VPBank, MSB, ABBank, Bac A Bank, LPBank, VCBNeo, BaoViet Bank, MBV, Sacombank, VIB, Saigonbank, ACB tăng lãi suất huy động. Có 2 đơn vị giảm lãi suất là ACB, PGBank.













