KH - Công Nghệ

Rời bỏ áo blouse trắng ở tuổi 43 để đi bán bảo hiểm: Lời tự sự cay đắng của một cựu bác sĩ sản khoa trước cú sốc 7,92 triệu trẻ ra đời

Cuộc khủng hoảng ngành sản khoa Trung Quốc năm 2026 và sự chuyển mình bất ngờ - Ảnh 1.


Từng là bộ phận không ngủ, luôn quá tải với những ca đỡ đẻ thâu đêm, các khoa sản tại Trung Quốc hiện đang chứng kiến một thực trạng ngược đời: Nhân viên y tế nhiều hơn cả thai phụ.

Sự sụt giảm tỷ lệ sinh kéo dài một thập kỷ không chỉ làm trống các phòng bệnh mà còn đẩy hàng nghìn bác sĩ phụ sản vào cuộc đua sinh tồn: Thay đổi, thích nghi hoặc chấp nhận rời bỏ nghề nghiệp đã từng là niềm kiêu hãnh.

Những "vết rạn" từ số liệu thực tế

Năm 2025, số lượng trẻ em được sinh ra tại Trung Quốc chạm mức thấp kỷ lục là 7,92 triệu ca. Con số này là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy các chính sách khuyến khích từ chính phủ, từ việc cho phép sinh ba con đến hỗ trợ tiền mặt và kéo dài kỳ nghỉ thai sản, vẫn chưa đủ sức đảo ngược xu hướng nhân khẩu học.

Đối với các bác sĩ sản khoa, sự sụt giảm này đồng nghĩa với việc các phòng bệnh trống trải hơn, số ca đỡ đẻ ít hơn và áp lực đè nặng lên các bộ phận từng được coi là không thể thiếu. Một số khoa bị sáp nhập, một số bị thu hẹp quy mô và một số biến mất hoàn toàn.

Cuộc khủng hoảng ngành sản khoa Trung Quốc năm 2026 và sự chuyển mình bất ngờ - Ảnh 2.

Cô Zhang Xuan

Trường hợp của Zhang Xuan, một cựu bác sĩ tại tỉnh Hồ Bắc, là một ví dụ điển hình. Trong thập kỷ đầu tiên của sự nghiệp, cô từng làm việc 72 giờ không ngủ trên những ca trực dồn dập. Nhưng đến thập kỷ thứ hai, khi tỷ lệ sinh rơi tự do, mức lương của cô chững, hầu như không tăng trưởng dù kinh nghiệm dày dạn hơn.

Năm 2016, Zhang quyết định từ bỏ chiếc áo blouse trắng. Ở tuổi 43, cô hiện là trưởng một nhóm bảo hiểm 50 người với thu nhập cao gấp ba lần thời làm bác sĩ.

"Rời bỏ ngành y, tôi mới bắt đầu được sống như một người bình thường," Zhang chia sẻ.

Năm 2024, Ủy ban Y tế Quốc gia đã chỉ định dịch vụ đỡ đẻ là dịch vụ y tế cơ bản, yêu cầu các huyện phải duy trì các dịch vụ đỡ đẻ công và kêu gọi các bệnh viện bảo vệ tiền lương cho bác sĩ sản khoa.

Theo các chuyên gia, cuộc khủng hoảng tỷ lệ sinh này đang tạo ra một sự phân hóa giàu nghèo và trình độ rõ rệt trong hệ thống y tế Trung Quốc. Trong khi các bệnh viện tuyến dưới tại các thành phố nhỏ đang phải đóng cửa hoặc sáp nhập khoa sản vì thua lỗ, thì các bệnh viện top đầu tại các đô thị lớn như Thượng Hải hay Quảng Châu lại đang thực hiện một chiến lược "tư nhân hóa" ngầm để tồn tại.

Wei Wen, bác sĩ tại một bệnh viện công lập danh tiếng ở Thượng Hải, cho biết khoa của cô đang đẩy mạnh các dịch vụ VIP. Với mức phí có thể vượt quá 100.000 nhân dân tệ (hơn 10 lần mức giá tiêu chuẩn), bệnh nhân sẽ được hưởng các dịch vụ như bác sĩ trưởng trực tiếp theo dõi, hộ sinh riêng và các nhóm chat hỗ trợ tận tình.

Điều thú vị là hiện tượng "nghịch đảo giá" đang xuất hiện: Một thai phụ họ Zhang tại Thượng Hải cho biết, nếu năm 2021 cô chi khoảng 80.000 - 100.000 nhân dân tệ cho bệnh viện tư nhân, thì đến năm 2025, cô sẵn sàng chi số tiền tương đương để có một suất VIP tại bệnh viện công đầu bảng nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho "thai sản muộn".

Ngay cả những lĩnh vực từng được coi là "phao cứu sinh" như hỗ trợ sinh sản (ART) cũng bắt đầu trở nên chật chội. Yu Mengqiu, một bác sĩ từng làm việc tại phòng khám hiếm muộn ở Thượng Hải, nhận định rằng dù nhu cầu của từng cá nhân đối với các "em bé quý giá" (sinh ra nhờ can thiệp y tế) tăng lên, nhưng sự sụt giảm tổng thể của thị trường là quá lớn.

Cuộc khủng hoảng ngành sản khoa Trung Quốc năm 2026 và sự chuyển mình bất ngờ - Ảnh 3.


Li Shuhua, một sinh viên sắp tốt nghiệp sau 8 năm đào tạo y khoa ròng rã, hiện đang rơi vào tuyệt vọng khi không thể tìm nổi một vị trí tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản. Cánh cửa đã đóng lại khi các vị trí trở nên bão hòa, và các phòng khám mới ở các thành phố nhỏ hơn lại ưu tiên những bác sĩ có kinh nghiệm thay vì những người mới ra trường.

Rút lui

Shi Jiyue là một trong những bác sĩ đã chọn ở lại.

"Khi còn là một thực tập sinh, tôi đã yêu ngành sản khoa ngay lập tức," Shi nói. "So với các khoa khác, nó mang lại cảm giác xa rời bệnh tật và cái chết. Ôm những đứa trẻ sơ sinh mềm mại, đỏ hỏn đó, tôi cảm thấy có điều gì đó thiêng liêng đang thôi thúc mình làm công việc này."

Hiện là bác sĩ sản khoa trưởng tại một bệnh viện đa khoa thành phố ở một đô thị loại năm tại vùng Đông Bắc Trung Quốc, Shi đã chứng kiến số ca sinh tại bệnh viện của mình giảm xuống còn khoảng một nửa so với những năm 2000, khi khoa từng xử lý tới 300 ca đỡ đẻ mỗi tháng.

Đến năm 2024, một số bệnh viện đa khoa trên khắp cả nước đã ngừng cung cấp dịch vụ đỡ đẻ, trong khi các bệnh viện chuyên khoa sản đang bị đóng cửa hoặc sáp nhập vào các hệ thống lớn hơn.

"Và tệ hơn nữa, các bệnh viện đa khoa rất miễn cưỡng tiếp nhận chúng," Shi nói, đề cập đến các bệnh viện chuyên khoa sản. "Chúng thường thua lỗ và bị coi là gánh nặng."

Zhang đã tận mắt chứng kiến gánh nặng đó tại bệnh viện nơi cô làm việc. Vào thời điểm cô rời đi, số ca sinh hàng tháng đã giảm xuống dưới 30, so với khoảng 100 ca khi cô mới bắt đầu. Lương của cô tăng từ 3.000 nhân dân tệ (khoảng 439 USD) một tháng lên 7.000 nhân dân tệ (khoảng 1.024 USD) trong thập kỷ đầu tiên làm việc, sau đó hầu như không thay đổi.

Đến tháng 2, sự suy thoái đã lan đến một bệnh viện hàng đầu ở Quảng Châu, thủ phủ của tỉnh Quảng Đông miền nam Trung Quốc. Một cựu nữ hộ sinh cho biết cô đã từ chức sau khi khoa của mình bắt đầu cắt giảm lương từ 1.000 đến 2.000 nhân dân tệ mỗi tháng và sa thải nhân viên.

"Tôi đã suy nghĩ về việc rời đi trong một thời gian dài," người phụ nữ ở độ tuổi 30 nói. "Thật khó để buông bỏ cảm giác được giúp các bà mẹ sinh con, và cả những đồng nghiệp đã sát cánh chiến đấu cùng tôi."

Cuộc khủng hoảng ngành sản khoa Trung Quốc năm 2026 và sự chuyển mình bất ngờ - Ảnh 4.


Hiện cô sống ở Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc, cùng chồng và con, giúp việc tại quán mì bò mà anh điều hành. Cô cho biết mình không có kế hoạch quay lại ngành sản khoa. Với bằng cấp học thuật thấp hơn, cô cảm thấy bị gạt ra khỏi các bệnh viện hàng đầu.

Trong một dấu hiệu cho thấy dịch vụ chăm sóc sản khoa cơ bản đã rút lui đến mức nào, vào năm 2024, Ủy ban Y tế Quốc gia đã yêu cầu các huyện có dân số trên 300.000 người phải duy trì ít nhất hai cơ sở cung cấp dịch vụ đỡ đẻ công, trong khi các huyện nhỏ hơn phải giữ lại ít nhất một cơ sở.

Cơ quan này cũng cho biết các bệnh viện công nên nỗ lực giữ lương cho bác sĩ sản khoa không thấp hơn mức trung bình của các bác sĩ bệnh viện và cấm họ giao chỉ tiêu doanh thu cho nhân viên sản khoa.

Chiến lược sinh tồn

Cuộc khủng hoảng đã trở nên rõ ràng đến mức Duan Tao, hiện là giám đốc sản khoa tại Bệnh viện Đông Thượng Hải và là một trong những bác sĩ sản khoa nổi tiếng nhất Trung Quốc, đã công khai kêu gọi mọi người hãy "cứu lấy ngành sản khoa", cảnh báo rằng chuyên ngành này đang "sụp đổ".

Theo ông Duan, các bệnh viện sản hiện nay không thể chỉ dựa vào việc đỡ đẻ để duy trì bộ máy.

Chiến lược mà các cơ sở y tế đang hướng tới là mở rộng chuỗi giá trị, tập trung vào ngăn ngừa sinh non, điều trị vô sinh và sàng lọc di truyền. Đồng thời các cơ sở cũng mở rộng sang chăm sóc hậu sản, phục hồi chức năng, da liễu thẩm mỹ, chống lão hóa và thậm chí là chăm sóc sức khỏe tâm thần.

"Nếu bạn chỉ dựa vào sản khoa đơn thuần, mà không có các dịch vụ liên quan này, thì cơ bản là không thể duy trì được. Đây là câu chuyện về tay nghề thủ công," Tiến sĩ Duan nhấn mạnh.

Ngay cả những kỹ thuật truyền thống như khâu vòng cổ tử cung hay xoay thai bên ngoài cũng phải được nâng tầm thành "kỹ năng chữ ký" để thu hút bệnh nhân giữa thị trường đang thu hẹp.

Tương lai của ngành sản khoa Trung Quốc nhiều khả năng sẽ chỉ còn là sân chơi của các "ông lớn" tuyến đầu và các trạm y tế cộng đồng quy mô nhỏ. Những bệnh viện tầm trung, thiếu bản sắc và dịch vụ bổ trợ, sẽ dần bị đào thải hoặc thâu tóm trong cuộc thanh lọc nghiệt ngã của quy luật dân số.

*Nguồn: SCMP, ThinkChina

Các tin khác