Tài chính

Lộ diện tỉnh tăng trưởng kinh tế mạnh nhất, bất ngờ về Hà Nội, TPHCM

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của các địa phương năm 2025 dao động từ 5,84% đến 11,89%. Phần lớn các địa phương có tốc độ tăng trưởng trên 7% (chỉ có 5 tỉnh có tốc độ tăng trưởng dưới 7%).

Dẫn đầu tốc độ tăng GRDP của cả nước là Quảng Ninh với mức tăng 11,89%. Hải Phòng đứng thứ hai với mức tăng 11,81%.

Tại Quảng Ninh, động lực chính đến từ Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và tổ hợp công nghiệp ôtô Thành Công Việt Hưng, các dự án FDI trong khu công nghiệp Đông Mai, Hải Hà. Trong khi đó, Hải Phòng ghi dấu ấn đậm nét với các dự án của Tập đoàn LG và tổ hợp sản xuất ôtô VinFast.

Lộ diện tỉnh tăng trưởng kinh tế mạnh nhất, bất ngờ về Hà Nội, TPHCM - 1

Các vị trí tiếp sau lần lượt thuộc về Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh và Quảng Ngãi, tăng trưởng từ 10,02% đến 10,65%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung.

Các địa phương này có điểm chung là định hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện và lợi thế so sánh của địa phương; nền tảng công nghiệp và dịch vụ tương đối vững chắc; triển khai hiệu quả các giải pháp cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành.

“Việc phát huy nội lực gắn với thu hút và sử dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI đã tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng GRDP đạt mức cao”, Cục Thống kê cho biết.

Trong khi đó, Hà Nội đứng thứ 16 với mức tăng 8,16%; TPHCM xếp thứ 21 với mức tăng 7,53%.

Bên cạnh những địa phương đạt mức tăng trưởng cao, một số địa phương có tốc độ tăng trưởng GRDP thấp hơn mức bình quân chung, gồm Vĩnh Long, Thái Nguyên, Tuyên Quang với mức tăng dao động từ 5,84% đến 6,4%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản mang tính khách quan và đặc thù kinh tế.

Xét theo vùng kinh tế thì đồng bằng sông Hồng tiếp tục giữ vai trò là vùng động lực tăng trưởng quan trọng của cả nước. Tốc độ tăng GRDP ước đạt 9,74% cao hơn mức tăng trưởng chung, đóng góp tới 36,41% vào tăng trưởng chung của cả nước, cao nhất trong các vùng.

Kết quả này cho thấy vai trò nổi bật của các trung tâm kinh tế lớn, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ hiện đại, cùng với hiệu quả lan tỏa từ các địa phương đầu tàu như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh.

Vùng trung du và miền núi phía Bắc tăng trưởng GRDP ước đạt 8,53%, đóng góp 7,77% vào tăng trưởng chung của cả nước. Vùng Bắc Trung Bộ ghi nhận mức tăng GRDP ước đạt 8,37%, đóng góp 6,47%. Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ước tăng trưởng đạt 7,74%, đóng góp 9,56%.

Vùng Đông Nam Bộ tiếp tục là vùng kinh tế có quy mô lớn nhất cả nước, tốc độ tăng GRDP ước đạt 7,98% và đóng góp 31,4% vào tăng trưởng chung. Đây là vùng tập trung nhiều trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics và tài chính lớn.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng trưởng GRDP ước đạt 7,24%, đóng góp 8,39% vào tăng trưởng chung. Mặc dù tốc độ tăng thấp hơn một số vùng khác nhưng vẫn khá ổn định, ít đột phá do phần lớn hoạt động kinh tế cơ bản gắn với phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ logistics nội vùng.

Các tin khác

ABBANK được UBCKNN chấp thuận chào bán cổ phiếu ra công chúng, tăng vốn điều lệ thêm hơn 3.100 tỷ đồng

ABBANK được UBCKNN chấp thuận chào bán cổ phiếu ra công chúng, tăng vốn điều lệ thêm hơn 3.100 tỷ đồng

Ngày 31/12/2025, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) chính thức cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng cho Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) với tổng giá trị 3.105.110.280.000 đồng, nâng vốn điều lệ của ABBANK lên đạt 13.455.477.900.000 đồng sau khi hoàn tất chào bán.
Quy định mới có hiệu lực từ 1/1/2026 sẽ tác động tới tỷ lệ cho vay/huy động của các ngân hàng, đặc biệt là nhóm Vietcombank, VietinBank và BIDV

Quy định mới có hiệu lực từ 1/1/2026 sẽ tác động tới tỷ lệ cho vay/huy động của các ngân hàng, đặc biệt là nhóm Vietcombank, VietinBank và BIDV

Từ ngày 1/1/2026, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước chính thức bị loại khỏi công thức tính tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) theo lộ trình tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN, đánh dấu một thay đổi quan trọng trong khung an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Cuối 2025, lãi suất cho vay mới và cũ ở mức 6,6% - 8,9%/năm

Cuối 2025, lãi suất cho vay mới và cũ ở mức 6,6% - 8,9%/năm

Theo công bố của Cục Thống kê, lãi suất cho vay bình quân bằng VND của ngân hàng thương mại đối với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,6% - 8,9%/năm còn lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm.