Trong biểu lãi suất huy động trực tuyến ngày 19/1, kỳ hạn 12 tháng tiếp tục là tâm điểm chú ý của người gửi tiền khi phản ánh rõ nhất mức độ cạnh tranh vốn trung - dài hạn giữa các ngân hàng.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, mặt bằng lãi suất 12 tháng vẫn duy trì ở mức thấp và khá đồng đều. Agribank và BIDV cùng niêm yết 5,3%/năm, VietinBank thấp hơn, ở mức 5,2%/năm, trong khi Vietcombank giữ mức thấp nhất hệ thống, chỉ 5,2%/năm. Khối ngân hàng quốc doanh vốn là lựa chọn phù hợp với nhóm khách hàng ưu tiên an toàn, thương hiệu và thanh khoản hơn là lợi suất.
Trong khi đó, khối ngân hàng tư nhân cho thấy sự phân hóa rõ rệt ở kỳ hạn 12 tháng. Nhiều ngân hàng đã đưa lãi suất lên trên mốc 6%/năm, thậm chí tiệm cận hoặc vượt 7%/năm. Đơn cử như MBV, PGBank với mức 7,2%/năm; Techcombank cũng áp dụng mức cao 6,95%/năm; Bac A Bank đạt 6,85%/năm; OCB, Vikki Bank, VIB, ABBank, LPBank, NCB, VPBank… phổ biến trong vùng 6,2-6,6%/năm.
Biểu lãi suất ngân hàng (%/năm)
| Ngân hàng | 1 tháng | 6 tháng | 12 tháng | 18 tháng |
| Agribank | 3 | 5 | 5,3 | 5,3 |
| BIDV | 3 | 4,5 | 5,3 | 5,3 |
| VietinBank | 3 | 4,5 | 5,2 | 5,3 |
| Vietcombank | 2,1 | 3,5 | 5,2 | 5,2 |
| ABBank | 4 | 6,5 | 6,5 | 6,5 |
| MB | 4,5 | 5,3 | 5,55 | 5,7 |
| NCB | 4,5 | 6,2 | 6,3 | 6,3 |
| TPBank | 4,75 | 5,1 | 5,5 | 5,7 |
| SHB | 4,2 | 5,6 | 5,8 | 6 |
| HDBank | 4,2 | 5,5 | 5,8 | 6,1 |
| OCB | 4,75 | 6,3 | 6,6 | 6,8 |
Ở nhóm có lãi suất mức trung bình, nhiều ngân hàng như MB, ACB, SHB, HDBank, MSB, Nam A Bank duy trì lãi suất 12 tháng quanh 5,7-5,8%/năm, vẫn cao hơn đáng kể so với khối quốc doanh.
Nhìn chung, kỳ hạn 12 tháng có sự chênh lệch lãi suất lên tới gần 2 điểm % giữa các ngân hàng. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang có xu hướng nhích lên, khoảng cách này mở ra nhiều lựa chọn hơn cho người gửi tiền.
Tuy nhiên, khách hàng được các chuyên gia khuyến nghị cần cân nhắc kỹ giữa mức sinh lời, uy tín tổ chức và các điều kiện đi kèm khi lựa chọn ngân hàng gửi tiền.

Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Ở kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, lãi suất ở mức thấp. Khối ngân hàng quốc doanh duy trì mặt bằng 2,1-3,5%/năm, trong đó Vietcombank thấp nhất. Ngược lại, nhiều ngân hàng tư nhân đẩy lãi suất 1-3 tháng lên vùng 4-4,75%/năm nhằm hút dòng tiền ngắn hạn, nổi bật như Bac A Bank, BaoViet Bank, OCB, PVcomBank, Sacombank, VPBank…
Kỳ hạn trung bình 6-9 tháng là nhóm kỳ hạn có sự cạnh tranh rõ rệt. Các ngân hàng quốc doanh phổ biến ở mức 4,5-5%/năm, trong khi khối tư nhân đã đưa lãi suất lên 6-7%/năm. Một số nhà băng như PGBank, Techcombank, MBV, Bac A Bank niêm yết mức trên 6,5%/năm.
Tại kỳ hạn dài 18 tháng, lãi suất tiếp tục nhích lên so với kỳ hạn 12 tháng, phổ biến trong khoảng 5,8-6,8%/năm tại nhiều ngân hàng tư nhân. PGBank hiện dẫn đầu với mức 7,3%/năm, trong khi MBV giữ 7,2%/năm. Nhóm quốc doanh duy trì quanh ngưỡng 5,3%/năm, không có nhiều biến động.
Theo thống kê từ đầu tháng 1, có 9 ngân hàng thay đổi lãi suất huy động. Trong đó, VPBank, MSB, ABBank, Bac A Bank, LPBank, VCBNeo, BaoViet Bank, MBV tăng lãi suất huy động. ACB là đơn vị duy nhất giảm nhẹ lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng.














