Theo Cục Thống kê, GDP năm 2025 tăng 8,02%, riêng quý IV tăng 8,46%; lạm phát bình quân năm 2025 ở mức 3,31%; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD. Chính phủ cũng cho biết toàn bộ 15/15 chỉ tiêu năm 2025 đều đạt hoặc vượt và cả giai đoạn 2021-2025 đạt hoặc vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu.
5 năm vừa qua cho thấy Việt Nam có năng lực chống chịu và điều hành khá tốt trước các biến động. Nhưng 5 năm tới sẽ không còn là giai đoạn chỉ cần “phục hồi” nữa, mà là giai đoạn buộc phải bứt lên về chất lượng tăng trưởng.
Trả lời phỏng vấn VietNamNet, Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng: Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số và đi qua giai đoạn già hóa dân số một cách an toàn, Việt Nam phải chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động rẻ sang mô hình dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, thể chế hiệu quả và an sinh bền vững. Đây mới là nền tảng thật sự để phát triển nhanh, vững chắc.

Tăng trưởng không thể chỉ dựa vào vốn và đất đai
- Theo ông, Chính phủ nhiệm kỳ mới 2026-2031 sẽ phải tập trung giải quyết những thách thức nào để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số?
TS Chu Thanh Tuấn: Điều đầu tiên, tôi phải nói thẳng là mục tiêu tăng trưởng hiện nay rất tham vọng. Việt Nam đặt mục tiêu GDP năm 2026 đạt ít nhất 10% và Nghị quyết Đại hội XIV cũng xác định mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026-2030 là từ 10% trở lên. Trong khi đó, các tổ chức quốc tế vẫn đang dự báo thấp hơn khá nhiều.
Cụ thể, Ngân hàng Thế giới gần đây dự báo Việt Nam tăng trưởng khoảng 6,3% trong năm 2026, còn Liên Hợp Quốc hiện để mức dự báo khoảng 6%. Điều này cho thấy khoảng cách giữa “mục tiêu chính sách” và “kỳ vọng quốc tế” là rất lớn. Muốn lấp khoảng cách đó, Việt Nam không thể chỉ làm tốt như cũ, mà phải thay đổi chất lượng tăng trưởng.
Tiếp đến là rủi ro từ môi trường bên ngoài, đặc biệt là thương mại. Bộ Công Thương cho biết mức thuế đối ứng của Mỹ áp với hàng Việt Nam từng được nêu ở mức 46%, sau đó được điều chỉnh xuống 20% theo tuyên bố ngày 1/8/2025. Dù mức này đã thấp hơn so với kịch bản xấu ban đầu, đây vẫn là lời nhắc rất rõ rằng Việt Nam đang phụ thuộc khá lớn vào các thị trường bên ngoài, nhất là khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Nói cách khác, tăng trưởng giai đoạn tới sẽ không chỉ là câu chuyện “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là “xuất đi đâu, với mức thuế nào và mức độ phụ thuộc ra sao”.
Thách thức thứ ba là năng suất lao động và đóng góp của đổi mới sáng tạo còn chưa đủ mạnh. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá rằng từ năm 2010 đến nay, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng của Việt Nam chỉ ở mức hơn 1/5, thấp hơn mục tiêu 45% mà kế hoạch phát triển 2021-2025 đặt ra.
Hiểu đơn giản, Việt Nam vẫn tăng trưởng nhiều nhờ mở rộng đầu tư và sử dụng thêm lao động, trong khi phần tăng trưởng đến từ công nghệ, quản trị, kỹ năng và hiệu quả sử dụng nguồn lực vẫn còn hạn chế. Đây là nút thắt rất lớn, vì muốn tăng trưởng 10% trong nhiều năm liền thì không thể chỉ dựa vào vốn và đất đai. Tăng trưởng lúc này phải dựa vào năng suất cao hơn và giá trị gia tăng cao hơn.
Một thách thức quan trọng khác là chất lượng thực thi cải cách. Cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy, phân cấp mạnh hơn hay đầu tư công lớn hơn đều là hướng đi đúng. Nhưng nếu triển khai không đồng bộ, Việt Nam có thể gặp tình trạng “chủ trương rất mạnh nhưng thực hiện chậm”, hoặc địa phương lúng túng trong giai đoạn chuyển tiếp.
Vì vậy, nhiệm kỳ mới của Chính phủ sẽ cần tập trung vào 3 việc rất thực tế: làm rõ trách nhiệm từng cấp, chuẩn hóa quy trình thực hiện, và xây dựng hệ thống đánh giá kết quả theo đầu ra thay vì chỉ theo thủ tục. Tăng trưởng cao không chỉ cần chính sách tốt, mà còn cần bộ máy thực thi hiệu quả.

Nỗi sợ "chưa giàu đã già" và bài học từ 3 quốc gia
- Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho biết, đến năm 2036, Việt Nam sẽ chính thức trở thành xã hội già, tức nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm trên 20% dân số. Việt Nam nên học gì từ các nước đi trước để tránh nguy cơ “chưa giàu đã già” và để sớm vượt bẫy thu nhập trung bình?
Đây đúng là một trong những vấn đề lớn nhất của Việt Nam trong 10 năm tới. Ngân hàng Thế giới cũng nhiều lần cảnh báo Việt Nam đang đối mặt nguy cơ “già hóa trước khi giàu”, nghĩa là dân số già đi nhanh hơn tốc độ tích lũy của nền kinh tế và hệ thống an sinh. Nếu không chuẩn bị từ bây giờ, tăng trưởng dài hạn sẽ chịu sức ép từ thiếu lao động trẻ, gánh nặng chăm sóc tăng lên, và chi ngân sách cho y tế, hưu trí, an sinh ngày càng lớn.
Bài học đầu tiên, theo tôi, là từ Hàn Quốc. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới và Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) đánh giá Hàn Quốc là một trong số ít quốc gia thoát bẫy thu nhập trung bình thành công nhờ duy trì nhiều thập niên tăng trưởng cao, đồng thời liên tục nâng cấp công nghệ, công nghiệp và năng lực đổi mới.
Bài học quan trọng ở đây không phải chỉ là “đầu tư thật nhiều”, mà là nước bạn đầu tư có chọn lọc vào các ngành có thể kéo cả nền kinh tế đi lên, đồng thời nâng chất lượng giáo dục, nghiên cứu và doanh nghiệp nội địa. Việt Nam có thể học điều này rất rõ. Muốn giàu lên trước khi già đi, quốc gia phải chuyển từ nền kinh tế gia công sang nền kinh tế sáng tạo ra giá trị cao hơn.
Ví dụ thứ hai là của Đài Loan (Trung Quốc). Viện Nghiên cứu Brookings (Mỹ) cho rằng để duy trì thành công, Đài Loan phải giữ vai trò dẫn đầu trong bán dẫn nhưng đồng thời phải đa dạng hóa sản phẩm, thị trường và nền tảng tăng trưởng để thành quả phát triển không chỉ tập trung vào một vài khu vực hay một vài doanh nghiệp lớn.
Điều này rất phù hợp với Việt Nam. Chúng ta không nên phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường xuất khẩu, một số ngành lắp ráp, hay một số khu vực FDI. Việt Nam cần một khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước mạnh hơn, đặc biệt ở công nghiệp hỗ trợ, công nghệ, logistics, nông nghiệp giá trị cao và dịch vụ chuyên môn.
Cuối cùng là câu chuyện từ Singapore. Quốc gia này cho thấy tăng trưởng bền vững phải đi cùng thể chế hiệu quả, đầu tư vào con người và quản trị nhà nước chất lượng cao. Những yếu tố như giáo dục – đào tạo, hạ tầng tốt, dịch vụ công hiệu quả và năng lực quản trị là các bài học quan trọng mà các nước đang phát triển có thể tham khảo từ Singapore.
Với Việt Nam, dẫn chứng từ đảo quốc này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh già hóa dân số. Một nước dân số già nhưng kỹ năng lao động cao, dịch vụ chăm sóc tốt và an sinh bao phủ rộng sẽ khác hoàn toàn với một nước già hóa nhưng năng suất thấp và bảo hiểm xã hội còn mỏng.
Ở đây, tôi cũng muốn nói thêm một chi tiết rất đáng chú ý. Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đến cuối năm 2025, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội đã đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó bảo hiểm xã hội bắt buộc khoảng 38,6% và tự nguyện 6,5%. Con số trên là tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn cho thấy còn hơn một nửa lực lượng lao động chưa nằm trong lưới bảo vệ hưu trí chính thức.
Tóm lại, ngay từ bây giờ, Việt Nam cần nhanh chóng nâng năng suất, đầu tư cho con người, hỗ trợ doanh nghiệp nội địa lớn lên, và mở rộng an sinh xã hội nhanh hơn. Đó là cách thực tế nhất để vừa tránh bẫy thu nhập trung bình, vừa giảm nguy cơ “chưa giàu đã già”.
- Xin cảm ơn ông.







