Sống

Danh sách nhóm có nguy cơ rối loạn tâm thần được đề xuất đưa vào diện giám sát

Bộ Y tế đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Dự thảo quy định về giám sát trong phòng, chống rối loạn tâm thần xác định ba nhóm cần theo dõi gồm người mắc bệnh, người tử vong do rối loạn tâm thần và người có nguy cơ mắc bệnh.

Trong đó, nhóm người mắc rối loạn tâm thần gồm những bệnh lý phổ biến như tâm thần phân liệt , động kinh, trầm cảm, rối loạn lo âu và sa sút trí tuệ. Ngoài ra, các rối loạn tâm thần khác cũng được đưa vào diện giám sát theo danh mục bệnh quy định trong phụ lục của dự thảo.

Cơ quan chuyên môn cũng theo dõi các trường hợp tử vong có nguyên nhân chính liên quan đến rối loạn tâm thần, căn cứ theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế.

Một nhóm quan trọng khác là những người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần. Đây là những người từng có tiền sử mắc bệnh hoặc có ít nhất một yếu tố nguy cơ về sinh học, tâm lý hoặc xã hội.

Danh sách nhóm có nguy cơ rối loạn tâm thần cần giám sát năm 2026 - Ảnh 1.

Bác sĩ hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân tâm thần. (Ảnh minh họa: Như Loan)

Các yếu tố nguy cơ được chia thành nhiều nhóm

Về sinh học và di truyền, nguy cơ tăng lên ở những người có người thân mắc rối loạn tâm thần, từng bị chấn thương sọ não hoặc tai biến mạch máu não. Người mắc các bệnh mạn tính như tiểu đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS hay động kinh cũng được xem là nhóm dễ bị tổn thương. Ngoài ra, một số giai đoạn sinh lý đặc biệt như tuổi dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh – mãn kinh hoặc tuổi già cũng có thể làm gia tăng nguy cơ.

Ở góc độ tâm lý, những người chịu căng thẳng kéo dài hoặc từng trải qua sang chấn lớn như mất người thân, ly hôn, thất nghiệp, bạo lực hoặc thảm họa có khả năng cao gặp rối loạn tâm thần. Những đặc điểm tính cách dễ lo âu, nhạy cảm, tự ti hoặc cầu toàn quá mức cũng được xem là yếu tố thuận lợi cho bệnh hình thành. Đặc biệt, người từng có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát cần được theo dõi chặt chẽ.

Yếu tố xã hội cũng đóng vai trò đáng kể. Tình trạng cô lập, thiếu hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, bị kỳ thị hoặc sống trong môi trường có nhiều bạo lực, tội phạm, thiên tai đều có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Việc lạm dụng rượu bia, ma túy, chất kích thích hoặc thuốc an thần cũng được xem là yếu tố thúc đẩy rối loạn tâm thần.

Ngoài ra, áp lực kéo dài trong học tập, công việc hoặc khó khăn kinh tế cũng được xác định là yếu tố nguy cơ cần được giám sát.

Đối với người đã được chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần, hệ thống giám sát sẽ thu thập nhiều thông tin chi tiết, bao gồm họ tên, giới tính, năm sinh, mã định danh cá nhân hoặc thẻ bảo hiểm y tế, nghề nghiệp, dân tộc và địa chỉ cư trú.

Bên cạnh đó là các dữ liệu liên quan đến bệnh như tên bệnh, thời điểm chẩn đoán, cơ sở y tế chẩn đoán, tình trạng tái phát, số lần nhập viện, mức độ nặng của bệnh. Việc sử dụng thuốc hàng tháng, khả năng phục hồi chức năng như lao động, sinh hoạt cá nhân và tình hình kiểm tra tại nhà cũng được ghi nhận.

Với nhóm người có nguy cơ, cơ quan giám sát sẽ thu thập các thông tin cơ bản về nhân thân, đồng thời đánh giá tình trạng sức khỏe và các yếu tố nguy cơ liên quan.

Việc theo dõi còn bao gồm các dữ liệu về tiền sử gia đình có người mắc rối loạn tâm thần, tình trạng sức khỏe của người mẹ trong thời kỳ mang thai như nghiện rượu, nghiện chất hoặc mắc bệnh truyền nhiễm có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh của thai nhi.

Các dấu hiệu nghi ngờ bất thường ở não bộ hoặc hệ thần kinh cũng được lưu ý, chẳng hạn rối loạn giấc ngủ kéo dài, thay đổi hành vi hoặc cảm xúc bất thường.

Ngoài ra, hệ thống giám sát cũng thu thập thông tin về những biểu hiện sớm như giảm khả năng học tập, lao động, khó khăn trong giao tiếp xã hội hoặc các rối loạn cảm xúc, hành vi kéo dài.

Ở cấp cộng đồng, dữ liệu còn bao gồm số người lạm dụng rượu bia, ma túy hoặc thuốc an thần; số hộ nghèo, thất nghiệp hoặc có điều kiện sống khó khăn; các trường hợp bạo lực gia đình, bạo lực học đường hoặc liên quan đến tội phạm.

Thông tin về những người chịu áp lực học tập và công việc kéo dài cũng được tổng hợp nhằm nhận diện sớm nguy cơ và có biện pháp can thiệp kịp thời.

Các tin khác