Chuyển nhầm 478 triệu, chủ tài khoản không trả
Tối 21/8/2024, bà Nguyễn Thị Song G. bán 6 lượng vàng SJC tại Ngân hàng E, nhận 478 triệu đồng vào tài khoản. Sau đó, bà G. dùng ứng dụng ngân hàng trên điện thoại để chuyển số tiền này sang tài khoản của mình tại Ngân hàng V.
Tuy nhiên, do không thay đổi tên ngân hàng thụ hưởng, bà G. đã chuyển nhầm 478 triệu đồng vào tài khoản số 14122xxx đứng tên Võ Ngọc L. tại Ngân hàng E.
Ngày 22/8/2024, phát hiện sự việc, bà G. yêu cầu ngân hàng tra soát, thu hồi số tiền. Một ngày sau, bà G. liên hệ với L. qua điện thoại, yêu cầu trả lại tiền nhưng L. không thực hiện.
Ngày 28/8/2024, bà G. tiếp tục đến ngân hàng. Phía ngân hàng trả lại giấy đề nghị tra soát và thông báo không liên lạc được với người thụ hưởng. Sau đó, bà G. trình báo sự việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TPHCM.

Theo xác minh tại Ngân hàng E., ngày 21/8/2024, tài khoản của Võ Ngọc L. đã nhận 478 triệu đồng do bà G. chuyển nhầm.
Mặc dù biết rõ đây là tiền của người khác chuyển nhầm, L. vẫn cùng chồng là Nguyễn Văn H. bàn bạc, thống nhất chiếm giữ để sử dụng vào mục đích cá nhân.
L. sau đó chuyển 2 triệu, 5 triệu và 13 triệu đồng vào tài khoản ZaloPay. Số tiền còn lại 457 triệu đồng được L. chuyển từ tài khoản tại Ngân hàng E. sang tài khoản tại Ngân hàng MB do L. đứng tên.
Sao kê tài khoản MB xác định ngày 26/8/2024, tài khoản của L. đã nhận 457 triệu đồng từ tài khoản của L. tại Ngân hàng E.
Khi bà G. tiếp tục nhắn tin yêu cầu trả lại tiền và thông báo sẽ trình báo Công an, L. cắt liên lạc bằng cách bỏ số điện thoại đã sử dụng để tránh bị liên hệ, tiếp tục sử dụng toàn bộ số tiền đã chiếm giữ.
Đến ngày 6/12/2024, khi được Công an huyện C., tỉnh B. triệu tập làm việc, L. còn khai báo gian dối, không thừa nhận việc chiếm giữ trái phép tài sản và cùng H. thống nhất lời khai rằng tài khoản ngân hàng, giấy tờ cá nhân đã bị mất.
Quá trình điều tra, L. và H. thừa nhận hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của bà G. Toàn bộ 478 triệu đồng đã được sử dụng hết vào mục đích cá nhân và không còn khả năng khắc phục hậu quả. Bà G. yêu cầu L. bồi thường 478 triệu đồng.
Xin hưởng án treo bất thành, nhận 2 năm tù
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND Khu vực A., TPHCM tuyên Võ Ngọc L. 2 năm tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự. Ngày 22/4/2026, L. kháng cáo, xin được hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H., xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Tại phiên phúc thẩm ngày 17/7/2026, L. giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và nói lời sau cùng xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện KSND TPHCM cho rằng bản án sơ thẩm xác định L. phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Theo Viện Kiểm sát, L. không cung cấp thêm tình tiết mới để xem xét cho hưởng án treo, trong khi từ quá trình điều tra, truy tố đến xét xử, bị cáo chưa khắc phục, trả lại bất kỳ khoản tiền nào cho bị hại. Vì vậy, Viện Kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
HĐXX phúc thẩm nhận định, L. biết rõ 478 triệu đồng là tiền bà G. chuyển nhầm nhưng vẫn cùng chồng bàn bạc chiếm giữ, chuyển tiền qua ZaloPay và MB để sử dụng cá nhân, nhằm tránh bị thu hồi.
Hành vi này thuộc trường hợp chiếm giữ tài sản trị giá từ 200 triệu đồng trở lên, quy định tại khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử L. về tội danh này là có căn cứ.
HĐXX cũng ghi nhận cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có 3 con nhỏ, trong đó con nhỏ nhất sinh năm 2025.
Tuy nhiên, cấp phúc thẩm cho rằng L. không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Đáng chú ý, sau khi chiếm giữ số tiền 478 triệu đồng, dù bị hại nhiều lần liên hệ yêu cầu trả lại, L. vẫn trốn tránh, thay đổi số điện thoại, chỗ ở và tiêu xài hết số tiền. Đến thời điểm xét xử phúc thẩm, bị cáo chưa khắc phục cho bị hại bất kỳ khoản tiền nào.
Theo HĐXX, mức án 2 năm tù mà cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.
Tòa phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của Võ Ngọc L., giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuyên L. 2 năm tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.
HĐXX cũng lưu ý, hành vi của bị cáo L. thuộc khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 1-5 năm tù, nên việc cấp sơ thẩm áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 về tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là chưa đúng, cần rút kinh nghiệm.
(Bài viết dựa trên Bản án số 565/2026/HS-PT ngày 17/7/2026 của TAND TPHCM).


