-
Nhiều khả năng tổng mức giảm giá của VND so với USD trong cả năm nay chỉ khoảng 2%Tại: Kịch bản nào cho tỷ giá những tháng cuối năm 2023?
-
Việc yêu cầu báo cáo với những giao dịch có giá trị lớn sẽ giúp cơ quan Nhà nước dễ kiểm soát những giao dịch có dấu hiệu đột biến, bất thường và cũng nhằm khiến những hành vi phạm pháp sớm bị ngăn chặn từ trước khi diễn raNâng mức giao dịch phải báo cáo NHNN lên 400 triệu đồng: Áp dụng với những ai?
Trao đổi với phóng viên sau buổi làm việc, TS Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đã đưa ra những phân tích, đánh giá về kết quả điều hành của NHNN trong những tháng đầu năm cũng như những chỉ đạo của Thủ tướng đối với ngành Ngân hàng.
PV: Thưa ông, tại cuộc làm việc ngày 13/8 với NHNN và hệ thống các TCTD, Thủ tướng Chính phủ đã ghi nhận và biểu dương những kết quả mà ngành Ngân hàng đạt được trong những tháng đầu năm. Từ góc độ một chuyên gia kinh tế, ông đánh giá như thế nào về những kết quả của ngành Ngân hàng?
TS. Võ Trí Thành: Để đánh giá, đưa ra nhận định như thế nào chúng ta nhìn vào bức tranh, kết quả thực tế của nền kinh tế. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, đây là con số được giới chuyên gia nhìn nhận rất là cao, dù chưa được như kỳ vọng theo mục tiêu đã định. Đằng sau động lực cho con số tăng trưởng đó là tăng trưởng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo, và nỗ lực giải ngân đầu tư công… Đóng góp vào hỗ trợ các thành quả kinh tế vĩ mô rất đáng ghi nhận đó là nỗ lực duy trì mạch máu vốn thông suốt, lành mạnh, ổn định cho nền kinh tế mà ngành ngân hàng đã thực hiện trong những tháng đầu năm. Chính vì vậy, Thủ tướng đã ghi nhận công tác điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng thời gian qua đã được NHNN và ngành Ngân hàng thực thi chủ động, linh hoạt, đóng góp tích cực vào việc kiểm soát các cân đối lớn, đặc biệt là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng.
Trong bối cảnh khó khăn, thách thức trong nước và quốc tế rất lớn, đặc biệt là các diễn biến khó lường của kinh tế toàn cầu thì NHNN đã điều hành để duy trì được tỷ giá ổn định, đồng Việt Nam tăng giá nhẹ - là một trong số rất ít các đồng tiền trong khu vực Châu Á tăng giá, trong khi hầu hết các đồng tiền của các nước khác mất giá từ 2%-6%, vì vậy đã góp phần rất lớn để lạm phát trong tầm kiểm soát. Cần lưu ý là Việt Nam là nền kinh tế có độ mở rất lớn, phụ thuộc vào giá dầu thế giới. Do đó, trong bối cảnh giá dầu quốc tế biến động mạnh thời gian qua, nếu NHNN không kiểm soát tốt được tỷ giá thì tác động vòng 2 của biến động giá hàng hóa quốc tế (lạm phát nhập khẩu) đến lạm phát tại Việt Nam sẽ nghiêm trọng hơn.
Đương nhiên để giữ được sự ổn định của tỷ giá, góp phần kiểm soát lạm phát như nêu trên thì phải có sự đánh đổi nhất định ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ khác của NHNN, trong đó đáng kể nhất là vấn đề lãi suất. Do đó có thể thấy, mặt bằng lãi suất VND thời gian qua tăng lên cũng là một vấn đề tất yếu trong việc đảm bảo giá trị của đồng Việt Nam, ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát. Vì vậy, Thủ tướng đã nhấn mạnh trong những tháng đầu năm Chính phủ chủ yếu triển khai các công cụ chính sách tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và để lại dư địa linh hoạt cho chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Như vậy, kết quả tăng trưởng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế thời gian qua có sự đóng góp quan trọng của chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Điều đó được thể hiện khá rõ qua việc NHNN đã nỗ lực trong việc giữ ổn định mặt bằng lãi suất mặc dù áp lực là rất lớn, hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Có thể nói, những bước đi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và hoạt động của hệ thống ngân hàng từ đầu năm 2026 đến nay đã đi trúng và đúng hướng và cần tiếp tục rút kinh nghiệm, phát huy trên một cấp độ cao hơn trong thời gian tới trước yêu cầu rất lớn để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở mức tối thiểu 10% cho cả năm 2026, trong bối cảnh áp lực lạm phát là rất thách thức, môi trường kinh tế quốc tế biến động khó lường. Chính vì vậy, Thủ tướng đã yêu cầu NHNN phải phát huy các thành tựu đã đạt được thời gian qua để nhìn nhận một cách thẳng thắn những vấn đề còn tồn tại trong công tác điều hành để có giải pháp khắc phục, triển khai quyết liệt trong các tháng còn lại của năm 2026, tạo đà cho cả nhiệm kỳ tới. Thủ tướng cũng khẳng định tôn chỉ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát để tạo lập nền tảng vĩ mô vững chắc cho phát triển bền vững trong thời gian tới là mục tiêu, yêu cầu tối cao, xuyên suốt trong công tác điều hành của NHNN.
Tuy nhiên, NHNN không chỉ giải bài toán cho mục tiêu đó mà NHNN còn phải giải bài toán tổng thể, rộng lớn hơn, xử lý được một trong những thách thức lớn nhất mà ngành ngân hàng sẽ phải đối mặt tới đây là phối hợp linh hoạt với các bộ, ngành để tìm điểm "cân bằng chung" giữa lạm phát – tăng trưởng cao. Xoay quanh điểm "cân bằng chung" này đòi hỏi NHNN điều hành rất linh hoạt các công cụ lãi suất, tỷ giá, tín dụng của NHNN mà tôi sẽ nêu cụ thể dưới đây.

TS. Võ Trí Thành
PV: Một trong những cụm từ được Thủ tướng nhấn mạnh là NHNN phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Theo ông, đây có phải là yêu cầu không đơn giản đối với NHNN trong thời gian tới?
TS. Võ Trí Thành: Như nêu ở trên, đây là vấn đề cốt lõi, then chốt cho năm nay và cả giai đoạn 5 năm tới, đồng thời đây cũng là vấn đề vô cùng thách thức. Việc tìm ra "điểm cân bằng" của nền kinh tế là tổng hòa các chính sách kinh tế vĩ mô, phát triển đồng bộ các động lực của nền kinh tế, phát triển cả tổng cung và tổng cầu một cách bền vững trong điều kiện đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong khi đó, chính sách tiền tệ là một trong tổng thể các chính sách vĩ mô, chỉ có khả năng tác động vào tổng cầu của nền kinh tế trong ngắn hạn nên việc một mình chính sách tiền tệ đơn độc không thể chủ động tìm ra và duy trì được "điểm cân bằng" tổng thể của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ chỉ có thể đóng vai trò là "mỏ neo" để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và là "bánh lái" cho nền kinh tế trong ngắn hạn để hỗ trợ cân đối mục tiêu tăng trưởng kinh tế khi điều kiện thuận lợi. Vai trò của chính sách tiền tệ dựa trên sự điều hành linh hoạt, sử dụng công cụ chính sách tiền tệ phù hợp, đúng liều lượng với diễn biến thực tế, trên cơ sở cập nhật dữ liệu, kết nối dữ liệu, cùng các dự báo và kịch bản điều hành khác nhau. Và đây cũng là một trong các chỉ đạo quan trọng của Thủ tướng đối với NHNN tại phiên làm việc vừa qua.
Cùng với đó, chúng ta cần nghiên cứu xây dựng và phát triển các bộ chỉ số tài chính, tiền tệ liên quan có tính tương tác qua lại với nhau để làm cơ sở cho Chính phủ điều hành các kịch bản vĩ mô trước sự biến động khó lường của kinh tế trong và nước và quốc tế. Các bộ, ngành và NHNN dưới sự điều phối của Bộ Tài chính – cơ quan đầu mối tham mưu cho Chính phủ điều hành các chính sách và kịch bản kinh tế vĩ mô cần xây dựng các kịch bản và mô hình cảnh báo sớm dựa trên tín hiệu của các chỉ số kinh tế, tài chính, tiền tệ để đảm bảo không bị động, bất ngờ trong việc duy trì "điểm cân bằng" chung nêu trên.
Với cách điều hành đó, cùng với hoạt động giám sát chặt chẽ các kịch bản điều hành sát với diễn biến thị trường sẽ hỗ trợ NHNN nói riêng và các bộ, ngành nói chung có được các phản ứng chính sách phòng ngừa rủi ro phù hợp, hỗ trợ tốt hơn việc xác định các nguồn lực và liệu lượng điều hành cung ứng vốn, tín dụng, lãi suất phù hợp cho nền kinh tế nhằm đạt "điểm cân bằng" cần thiết giữa ổn định tế vĩ mô, lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
PV: Theo báo cáo của NHNN tại buổi làm việc, đến ngày 31/7/2026, tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Khoảng 77,3% dư nợ phục vụ sản xuất kinh doanh. Ông đánh giá thế nào về những con số này?
TS. Võ Trí Thành: Con số 8,98% thể hiện công tác tín dụng của NHNN vừa gắn với mục tiêu dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 khoảng 15%, vừa thể hiện sự điều hành chủ động, linh hoạt, gắn với diễn biến tình hình thực tế, vừa đảm bảo an toàn hệ thống.
Công tác điều hành tín dụng năm 2026 khác với những năm trước, có sự chuyển biến nhất định trong việc "nắn" dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng mới, sản xuất kinh doanh, đóng góp, hỗ trợ cho tăng trưởng và hạn chế rủi ro. Việc "nắn" này thể hiện sự linh hoạt trong sử dụng công cụ chính sách tiền tệ, việc triển khai các gói tín dụng hỗ trợ, ưu tiên cho xuất khẩu, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, nhà ở xã hội, bất động sản khu công nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa…
Khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế tập trung phục vụ sản xuất kinh doanh, tín dụng nông nghiệp, nông thôn chiếm 21,79%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 20%. Đáng chú ý, tín dụng đối với xuất khẩu và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng lần lượt 28,26% và 38,98%. Những con số này cho thấy tín dụng đang có xu hướng đi vào những khu vực tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, vốn cơ bản đã đến đúng đối tượng, đúng mục đích, góp phần thúc đẩy đạt mục tiêu tăng trưởng.
PV: Trong thời gian tới, theo ông, đâu sẽ là những nhiệm vụ trọng tâm mà chính sách tiền tệ hướng đến?
TS. Võ Trí Thành: Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế rất cao cho năm nay và những năm tới. Điều này tạo thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động tín dụng, ngân hàng, đòi hỏi cần phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là chính sách tài khoá, vừa phải chủ động, linh hoạt, phản ứng nhanh, kịp thời với các diễn biến, kịch bản như đề cập ở trên. Theo tôi, trong thời gian tới, điều hành chính sách tiền tệ cần hướng đến xử lý 3 vấn đề sau:
Thứ nhất, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời tạo thêm dư địa cho chính sách tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng. Chính sách tiền tệ phải điều hành linh hoạt, phản ứng kịp thời, công cụ tiền tệ được sử dụng dựa trên dữ liệu về diễn biến kinh tế vĩ mô, hài hòa các mục tiêu trên cơ sở mô hình và kịch bản điều hành khác nhau.
Thứ hai, khơi thông dòng vốn đi đôi với nâng cao chất lượng. Từ bài học kinh nghiệm thực thi chính sách thời gian qua thì vấn đề này có thể được xử lý theo nhiều cách. Những tháng đầu năm 2026, NHNN đã điều hành khéo léo, sử dụng các công cụ tiền tệ linh hoạt, uyển chuyển để hỗ trợ thanh khoản, duy trì lãi suất phù hợp để ổn định tỷ giá.
Có thể qua sử dụng linh hoạt công cụ chính sách tiền tệ đảm bảo thanh khoản, giảm áp lực tăng lãi suất, sử dụng hiệu quả các gói tín dụng hỗ trợ nhất là cho lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng. Gói tín dụng hỗ trợ cho thuỷ sản, cho nhà ở xã hội là bài học quý cho các chương trình tín dụng hỗ trợ. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng có thể tiếp tục cắt giảm chi phí, tăng cường rà soát, đơn giản hoá thủ tục cấp tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số trong cấp tín dụng, tiết kiệm chi phí, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng thuận lợi, với chi phí hợp lý.
Thứ ba, tiếp tục tái cơ cấu và xây dựng hệ thống ngân hàng an toàn, lành mạnh, hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn các chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Điều này không chỉ là xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao năng lực tài chính và quản trị rủi ro, mà còn phải đổi mới công tác thanh tra, giám sát, tăng cường cảnh báo sớm, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu. Thành công của quá trình cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng phụ thuộc rất lớn vào công cuộc phát triển thị trường vốn, đặc biệt thị trường cổ phiếu và trái phiếu, rất là trái phiếu doanh nghiệp.
Ba nhóm nhiệm vụ này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau để đảm bảo thực thi đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: lấy ổn định là nền tảng, là cơ bản; thúc đẩy dòng vốn tín dụng luân chuyển hiệu quả vào nền kinh tế là động lực; xây dựng hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiện đại là điều kiện để thực thi hai mục tiêu đó được duy trì bền vững.
Tôi thiết nghĩ 3 nhóm giải pháp vừa đề cập, trong một chừng mực nào đó, cũng tương thích với điều Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh: quy mô phải đi đôi với chất lượng; tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro; chuyển đổi số phải đi đôi với an toàn dữ liệu; hội nhập quốc tế phải đi đôi với năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế. Theo tôi, đây không chỉ là yêu cầu đối với ngành Ngân hàng, mà còn là yêu cầu đối với mô hình tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hy vọng, chúng ta có đủ công cụ chính sách, đủ uyển chuyển, đủ kinh nghiệm, đủ cải cách, để thực hiện trọng trách nặng nề hiện đang đặt lên vai chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô và sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng.
Xin cảm ơn những chia sẻ của chuyên gia!


