Sáng 29/8, Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn phối hợp cùng Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức hội thảo trực tuyến với chủ đề “Chính sách thương mại quốc tế mới của Mỹ: Dự đoán chuỗi cung ứng toàn cầu và cách thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam”.
Tại hội thảo, ông Trần Ngọc Anh, giáo sư tại Đại học Indiana, thành viên Sáng lập Mạng lưới Sáng kiến Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam nên cân nhắc xây dựng một chiến lược kết hợp giữa “Made in Vietnam” và “Assembled in USA”, tức là khâu sản xuất được thực hiện tại Việt Nam, còn khâu lắp ráp, hoàn thiện và đóng gói sẽ diễn ra tại Mỹ.
Mặc khác, chuyên gia nhấn mạnh Mỹ đặc biệt quan tâm đến những mặt hàng mang tính chiến lược, liên quan đến an ninh quốc gia, do đó doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung vào các mặt hàng phi chiến lược nhằm giảm rủi ro khi thâm nhập thị trường này.
Ông Trần Ngọc Anh cũng nêu rõ Mỹ đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe về tuân thủ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có hệ thống thông tin minh bạch, thậm chí có thể ứng dụng công nghệ blockchain để truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
"Việt Nam hiện vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường, song các cuộc điều tra thường được tiến hành theo từng công ty. Trong nhiều trường hợp, nếu doanh nghiệp xây dựng được hệ thống quản trị minh bạch, bài bản, họ có thể được hưởng một số ngoại lệ nhất định", ông Ngọc Anh nói.
Về chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ, GS. Trần Ngọc Anh cho rằng doanh nghiệp cần xác định và tập trung vào thị trường ngách, tránh cạnh tranh bằng giá vì rủi ro rất lớn. “Đây cũng là lúc doanh nghiệp Việt Nam phải tạo dựng thương hiệu, xây dựng giá trị riêng cùng với câu chuyện và văn hóa đằng sau sản phẩm, thay vì chỉ dựa vào lợi thế giá rẻ”, ông khẳng định.
Ngoài ra, trong hợp tác và đầu tư tại Mỹ, các bang chiến trường là khu vực doanh nghiệp Việt Nam nên đặc biệt chú ý, bởi chính quyền Mỹ thường ưu tiên hỗ trợ phát triển tại đây. Cùng với đó, việc tham gia các hiệp hội ngành hàng của Mỹ sẽ giúp doanh nghiệp có thêm thông tin, mở rộng quan hệ và tạo những ảnh hưởng nhất định.
GS. Trần Ngọc Anh cũng nhấn mạnh rằng doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực tổng thể. Trong đó, một yếu tố quan trọng là phải có đội ngũ pháp lý và quan hệ chính phủ ngay tại Mỹ để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh. Theo ông, các chuyên gia am hiểu sâu sắc thị trường Mỹ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng những chương trình hỗ trợ thiết thực, giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường này hiệu quả hơn.

Ông Trần Ngọc Anh, giáo sư tại Đại học Indiana, thành viên Sáng lập Mạng lưới Sáng kiến Việt Nam. (Ảnh: RMIT).
Doanh nghiệp gỗ không nên vội chuyển hướng
Cùng chia sẻ tại hội thảo, ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM khẳng định Mỹ vẫn là thị trường quan trọng nhất đối với ngành gỗ Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn. Do đó, ông cho rằng doanh nghiệp không nên vội vàng tìm kiếm các thị trường khác vì lo ngại thuế đối ứng. Theo ông, dù có thuế đối ứng hay không, Mỹ vẫn được đánh giá là thị trường vô cùng ổn định so với các thị trường khác.
Chia sẻ về sự chuẩn bị của các doanh nghiệp ngành gỗ trong bối cảnh chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là sự mở rộng của chiến lược "Trung Quốc +1", ông Phương cho biết sự phát triển của ngành gỗ phụ thuộc vào ba yếu tố: lực lượng lao động có tay nghề, nguồn cung ứng nguyên vật liệu và chính sách của Nhà nước trong phát triển ngành nghề và xử lý các vấn đề thương mại.
Ông cũng chỉ ra rằng chi phí lao động ngành gỗ tại Việt Nam hiện vào khoảng 400 USD/tháng, thấp hơn so với Trung Quốc và đặc biệt thấp hơn nhiều so với mức lương lên tới 4.000 USD/tháng tại Mỹ, tạo ra lợi thế trong ngắn hạn. Song, về lâu dài, thu nhập của người lao động sẽ phải tăng lên, có thể đạt 600 - 1.000 USD trong vòng 3 - 5 năm tiếp theo. Do đó, ông Phương cho rằng doanh nghiệp buộc phải chuẩn bị cân đối giữa nhu cầu thị trường và năng lực nguồn lực trong nước.
Cũng theo ông Phương, không giống như nhiều ngành công nghiệp khác, ngành gỗ không thể “bùng lên rồi tắt đi nhanh chóng”. Ông cho rằng đây là nhu cầu cơ bản của con người, chỉ sau nhu cầu thực phẩm.
Hiện nay, ngành gỗ đang có sự cân bằng khá tốt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Nếu khối FDI mạnh về sản xuất đồ nội thất thì doanh nghiệp Việt Nam vừa có lợi thế về nguyên liệu vừa sản xuất được đồ nội thất. Ông Nguyễn Chánh Phương cho hay trong giai đoạn tới ngành gỗ đặt mục tiêu gia tăng tỷ trọng doanh nghiệp Việt Nam.
Liên quan đến xu hướng phát triển xanh, bền vững, ông Phương nhấn mạnh ngành gỗ gắn liền với nguyên liệu từ rừng, trong đó nguyên liệu xuất khẩu chủ yếu đến từ rừng trồng. Ông khẳng định xu thế xanh không thể đảo ngược. Trên thực tế, trong vòng 10 năm qua, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào châu Âu và Mỹ đã thích ứng khá tốt với các yêu cầu này. Người tiêu dùng đóng vai trò quyết định và doanh nghiệp nào đáp ứng được tiêu chuẩn “xanh” sẽ chiếm được niềm tin.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM cũng cho hay ngành gỗ có lợi thế khi việc tiêu thụ gỗ từ rừng trồng sẽ góp tăng tăng sự cộng hưởng của rừng trồng, gia tăng độ phủ xanh. Do đó, xu hướng xanh không thể đi ngược lại, mà sẽ ngày càng là điều kiện bắt buộc.
Đối với các doanh nghiệp ngành dệt may, ông Phan Văn Việt, Phó Chủ tịch Hội Dệt may Thời trang TP HCM cho biết thuế đối ứng chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến một số doanh nghiệp tập trung xuất khẩu vào thị trường Mỹ, trong khi đó phần lớn doanh nghiệp có 2 - 3 thị trường và chia sẻ chi phí thuế với các đối tác.
Ông Việt cho biết trong thời gian tới, ngành dệt may sẽ tiếp tục chuyển đổi công nghệ. Trước đây, nhờ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) từ khâu thiết kế, kho thông minh đến dây chuyền sản xuất, năng suất của ngành dệt may đã tăng gấp ba lần dù sử dụng ít lao động hơn.
Về lâu dài, để giảm áp lực phụ thuộc vào thị trường Mỹ, ông Việt cho biết ngành dệt may sẽ thực hiện chiến lược nội địa hóa, hợp tác trong khu vực ASEAN để thay đổi chuỗi cung ứng, đồng thời phát triển thị trường nội địa và xây dựng thương hiệu ngay tại Việt Nam.