NHNN đã kích hoạt ba công cụ hỗ trợ thanh khoản
Trong báo cáo phân tích mới đây, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết tỷ lệ tín dụng/cung tiền neo cao (khoảng 96,8%) đang phản ánh nguồn tiền trong nền kinh tế chủ yếu được tạo ra từ tín dụng nội địa thay vì dòng ngoại tệ ròng (do thâm hụt vãng lai và dòng vốn chảy ra khỏi Việt Nam).
Nguồn: FiinX, Bloomberg, VDSC tổng hợp.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề hiện nay là việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai chữ số phụ thuộc lớn vào tín dụng nhưng hệ thống ngân hàng lại đang gặp vấn đề là không thể tự cân đối thanh khoản, buộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải liên tục can thiệp điều tiết.
Trên kênh liên ngân hàng, NHNN đã linh hoạt điều tiết bơm hút ròng trên thị trường mở, số dư bơm ròng trên liên ngân hàng vẫn ở vùng kỷ lục.
NHNN đã kích hoạt đồng thời ba công cụ hỗ trợ: nghiệp vụ hoán đổi tỷ giá (với số dư đỉnh điểm hơn 141.000 tỷ đồng vào tháng 2/2026), gói tái cấp vốn 50.000 tỷ đồng (lần đầu sử dụng lại kể từ năm 2022) và cơ chế điều chuyển vốn thặng dư Ngân sách Nhà nước sang các ngân hàng quốc doanh.
Theo VDSC, do sự hỗ trợ từ NHNN vẫn là yếu tố then chốt để duy trì thanh khoản trong ngắn và trung hạn, cấu trúc phụ thuộc này sẽ tiếp tục giữ áp lực lạm phát ở mức cao khiến cho không gian mở rộng chính sách tiền tệ trở nên hẹp hơn.
"Tuy nhiên, với tình hình tỷ giá ổn định cùng bối cảnh bên ngoài hạ nhiệt (DXY suy giảm), NHNN vẫn có thể sẽ sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để gia tăng sự hỗ trợ về thanh khoản cho nền kinh tế.", VDSC nhận định.
Lãi suất dài hạn khó giảm
Báo cáo của VDSC cũng dự báo rằng lãi suất có thể đạt đỉnh nhưng khó giảm vì vấn đề mang tính hệ thống. Cụ thể, chênh lệch tín dụng và tiền gửi khiến tỷ lệ Tín dụng/huy động tăng rất cao so với quá khứ, điều này gây áp lực lên cho thanh khoản hệ thống khi lãi suất qua đêm trung bình và cả doanh số giao dịch qua đêm trung bình tháng đang ở mức cao nhất lịch sử.
Theo các nhà phân tích của VDSC, tình trạng này sẽ khó đảo ngược với nhu cầu vốn trong hiện tại và làm cho khả năng giảm lãi suất cho vay khó xảy ra hơn, nhưng với các chính sách hỗ trợ của NHNN thì khả năng lãi suất sẽ lập đỉnh từ đây tới cuối năm 2026.
Xét riêng về tín dụng, có thể thấy tăng trưởng tín dụng vẫn đang ở mức cao, tăng 17,4% so với cùng kỳ (tháng 6). Điều này làm cho chênh lệch tiền gửi và tín dụng trung bình ngày càng cao và tạo ra tình trạng giống những năm 2012 - 2013 khi hệ thống ngân hàng khi đó cũng tăng trưởng nóng.
Mặc dù nhờ các biện pháp điều hành của NHNN đã giúp mở rộng thanh khoản và giảm áp lực huy động ngắn hạn, nhưng lãi suất dài hạn vẫn ở mức cao trong 2 năm khiến cho chênh lệch lãi suất giữa các kỳ hạn nới rộng.
Trong khi đó, ngân hàng tiếp tục chịu áp lực huy động vốn dài hạn của ngân hàng: Cho vay dự án, trung - dài hạn có kỳ hạn 5–10 năm nhưng dân chỉ gửi tiết kiệm 1–3 tháng tới 1 năm chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Do vậy, theo VDSC, muốn có vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu vay và đạt các tỷ lệ an toàn, các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất huy động kỳ hạn dài lên 8%– hơn 9%/năm. Do đó, lãi suất dài hạn sẽ rất khó giảm trong thời gian tới.



