Chia sẻ tại hội thảo "Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số" do Báo Lao Động tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) - ước tính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021 - 2025 (khoảng 17,4 triệu tỷ đồng).
Theo đó, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân 16%/năm, nâng tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân từ khoảng 33% giai đoạn 2021 - 2025 lên khoảng 40% giai đoạn 2026 - 2030.
Hiện nay, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo của nền kinh tế, chiếm tỷ trọng trên 50% tổng vốn đầu tư toàn nền kinh tế.
Do đó, cần có sự chuyển dịch dòng vốn, từng bước chuyển từ việc phụ thuộc chủ yếu vào vốn vay ngân hàng sang phát triển mạnh hơn các kênh thị trường vốn, như thị trường trái phiếu và cổ phiếu.
Khơi thông điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển kênh trái phiếu
Nhìn nhận về thị trường trái phiếu, Ông Hoàng Văn Thu, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà (UBCKNN) nước cho hay Dự thảo sửa đổi Nghị định 153/2020/NĐ-CP hướng tới mục tiêu khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát kinh tế xã hội.
Ngoài mục tiêu phát triển thị trường trái phiếu hiệu quả minh bạch, chuyên nghiệp, dự thảo còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành, nhưng tăng cường công cụ kiểm tra, giám sát. Đây là điểm chính trong nghị định. Có 7 điểm mới quan trọng trong Dự thảo Nghị định.
Ông Hoàng Văn Thu - Phó Chủ tịch UBCKNN, Bộ Tài chính. (Ảnh: Báo Lao động).
Điểm mới đầu tiên, về mục đích phát hành và quản lý sử dụng vốn.
Thứ hai, về điều kiện hồ sơ, trình tự thủ tục, phân loại thành 2 nhóm: Khối đại chúng và không phải đại chúng. Điều này hướng tới phân luồng nhà đầu tư. Vừa là phân loại đối tượng, vừa là phân loại trái phiếu cho nhà đầu tư, cá nhân. Qua đó định hướng thị trường một cách chuyên nghiệp. Rủi ro và lợi suất đồng hành cùng nhau.
Điểm mới thứ ba liên quan đến trách nhiệm của các tổ chức cá nhân tham gia vào thị trường này. Từ tổ chức phát hành, cung cấp dịch vụ, trách nhiệm của cơ quan quản lý,... được phân định rõ ràng. Tổ chức nào thực hiện, chịu trách nhiệm đến đâu.
Điểm mới thứ tư, các tổ chức cung cấp dịch vụ, bỏ quy định không để các ngân hàng thương mại, ngân hàng nước ngoài làm đại lý phân phối trái phiếu.
Thứ năm, chuyển đổi số, cập nhật tình hình phát hành theo thời gian thực, kết nối với các địa phương, tình hình phát hành trái phiếu, vi phạm…
Điểm mới thứ sáu, quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra. Thể hiện rõ nét công tác quản lý, từ các bộ ngành, địa phương, mạnh dạn thực hiện cơ chế thứ cấp. Bộ Tài chính là người chịu trách nhiệm tổng hợp cuối cùng, các nội dung cần điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù hợp.
“Chúng tôi kiểm tra giám sát khi có dấu hiệu vi phạm. Bản chất, các tổ chức, cá nhân, nhà phát hành chịu trách nhiệm hồ sơ của mình”, ông Thu nói.
Điểm mới thứ bảy, bổ sung chương cơ chế xử lý giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại. Điều này tránh nhà đầu tư hiểu nhầm là trách nhiệm của cơ quan quản lý, mà chính là trách nhiệm của cơ quan phát hành.
Bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính). (Ảnh: Báo Lao động).
Cũng tại sự kiện, bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết: “Hiện nay, dư nợ trái phiếu Chính phủ so với GDP đã giảm xuống. Vì vậy, việc tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này vẫn là một trong những giải pháp trọng tâm. Bộ Tài chính trong thời gian tới sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu.
Một trong những giải pháp quan trọng là rà soát lại khung pháp lý hiện hành. Hiện các quy định đang được rà soát và báo cáo Quốc hội. Chúng tôi sẽ tiếp tục đánh giá toàn diện để hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến huy động vốn của Chính phủ”, bà Tâm chia sẻ.
Một nội dung rất quan trọng nữa được Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính nhấn mạnh là phát triển cơ sở nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn.
Bà cho rằng đây là những nhà đầu tư có nguồn vốn ổn định và có khả năng đầu tư dài hạn.
“Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài cũng được coi là một thành phần rất quan trọng trong cơ cấu nhà đầu tư. Tuy nhiên, để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài tham gia dài hạn vào thị trường trái phiếu Việt Nam thì chúng ta cần phải phát triển thêm nhiều sản phẩm và cải thiện môi trường đầu tư. Trong trường hợp có biến động trên thị trường, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài có thể giúp thị trường có thêm thanh khoản và tăng tính ổn định”, bà Tâm cho hay.
Bà thông tin đối với nguồn vốn vay nước ngoài, Bộ Tài chính cũng đang tập trung phối hợp với các cơ quan liên quan để triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
“Việc nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia là rất quan trọng, bởi khi xếp hạng tín nhiệm được cải thiện thì Chính phủ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc huy động vốn trên thị trường quốc tế, cả thông qua phát hành trái phiếu quốc tế cũng như vay vốn nước ngoài. Hiện nay, Bộ Tài chính đang từng bước triển khai các biện pháp để cải thiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nâng cao tính minh bạch của thị trường và củng cố niềm tin của nhà đầu tư quốc tế”, bà Tâm cho biết.
Cần "vốn hóa" các tài sản để tạo thêm “hàng” cho thị trường
Trao đổi tại hội thảo, ông Đào Minh Tú - Nguyên Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính, Tiền tệ Quốc gia nhìn nhận thêm rằng bên cạnh vốn bằng tiền, nguồn lực phát triển còn bao gồm vốn tài sản, vốn thiết bị, máy móc, vật tư cũng như các loại tài sản hữu hình và vô hình khác.
Ngoài ra, vốn con người cũng là một nguồn lực đặc biệt quan trọng, bao gồm lực lượng lao động, trình độ tri thức, chất lượng dân số và nguồn nhân lực chất lượng cao.
“Về nguồn vốn nước ngoài, thời gian tới Việt Nam sẽ thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế. Khi các trung tâm này đi vào hoạt động, việc khai thác các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, được kỳ vọng sẽ thuận lợi hơn. Việc duy trì tỷ lệ thu hút vốn nước ngoài như thời gian qua có thể xem là một thành quả rất lớn”, ông Đào Minh Tú đánh giá.
Ông Đào Minh Tú - Nguyên Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nguyên Chủ tịch Công đoàn Ngân hàng Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính, Tiền tệ Quốc gia. (Ảnh: Báo Lao động).
Đối với nguồn vốn tín dụng, dưới góc độ chuyên môn, ông Tú cho biết nguồn tín dụng có thể tăng chậm hơn so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Theo quy luật cung - cầu, trong một số thời điểm các ngân hàng thương mại buộc phải điều chỉnh tăng lãi suất để tạo sự cân bằng trên thị trường vốn.
Do đó, để phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu, cần phải "vốn hóa" các tài sản để tạo thêm nhiều “hàng hóa” cho thị trường. Đây là một bài toán phức tạp với nhiều biến số.
Đối với thị trường trái phiếu, doanh nghiệp phải đủ điều kiện phát hành thì người dân mới tin tưởng mua. Hiện nay, thị trường chủ yếu là trái phiếu Chính phủ với mức rủi ro thấp, nhưng người mua lại chủ yếu là các ngân hàng và công ty bảo hiểm, chưa thực sự lan tỏa rộng tới người dân và doanh nghiệp.
Với thị trường chứng khoán, cần chú trọng phát triển thị trường sơ cấp, tức là phát hành cổ phiếu lần đầu để thu hút thêm nhà đầu tư, thay vì chỉ tập trung vào thị trường thứ cấp với hoạt động mua đi bán lại nhằm tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.
Trong bối cảnh nguồn vốn không quá dồi dào, điều quan trọng là phải tăng tốc độ luân chuyển vốn. Ví dụ, nếu một ngân hàng có 1.000 tỷ đồng nhưng quay vòng được hai lần trong một năm thì hiệu quả tương đương với việc sử dụng 2.000 tỷ đồng.
Ông Tú cho biết thêm riêng với thị trường bất động sản, hiện nay một lượng vốn rất lớn đang bị "đóng băng" trong các dự án. Việc tháo gỡ các vướng mắc của thị trường này là ưu tiên lớn của Chính phủ và các bộ ngành nhằm khơi thông dòng vốn.
Vàng cũng là một loại tài sản cần được nghiên cứu để tăng tốc độ chu chuyển dòng tiền trong nền kinh tế.
Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm. Hiện nay khối lượng nợ xấu và tài sản đang chờ xử lý là rất lớn, ước tính lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng. Theo ông Đào Minh Tú, dù Quốc hội đã luật hóa nhiều nội dung trong Luật Ngân hàng và Luật Các tổ chức tín dụng, nhưng nếu đẩy nhanh việc xử lý các khoản nợ này sẽ tạo ra một nguồn vốn luân chuyển đáng kể cho nền kinh tế.
Ông nhìn nhận về dài hạn, cốt lõi vẫn là nâng cao năng lực của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần được tạo điều kiện để tăng cường năng lực tài chính của mình, thay vì chỉ phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng hoặc ngân sách nhà nước.






